chim tu hú

Chim tu hú loài chim “lưu manh” nhất trong thế giới tự nhiên

Chim tu hú được mệnh danh là loài chim tàn độc, vô trách nhiệm và lưu manh bậc nhất hiện nay. Khi mới nghe tới tên của chim tu hú. Chúng ta thường liên tưởng tới loài chim hiền lành, xinh xắn. Tuy nhiên thực tế thì hoàn toàn ngược lại. Bạn đang thắc mắc tại sao đây là loài chim “tàn độc nhất” thì hãy cùng tìm hiểu ở bài viết dưới đây.

Đặc điểm của chim tu hú

Tu hú có tên khoa học là Endynamis scolopacea. Tên tiếng Anh là Asian Koe. Chúng thuộc dòng loài chim cu cu.

Đây là một loài chim cu lớn, đuôi dài 45cm. Chim tu hú trống có lông đen hoàn toàn với ánh xanh thẫm. Chim tu hú mái có lông đốm đen nhạt, trắng, mặt lưng có màu nâu đen nhạt ánh xanh lục và lốm đốm trắng. Đầu của chim mái hơi nhạt và hung hơn chim đực. Các điểm trắng dài ra thành vệt dọc ở lông đuôi và lông cánh. Vệt trắng chuyển thành vằn ngang không đều, mặc bụng trắng và có vằn đen.

Chim tu hú non có lông đen toàn thân. Sau thời kỳ thay lông đầu tiên bộ lông của nó sẽ chuyển sang màu giống của chim mái. Còn chim tu hú trống non thì có bộ lông đỏ. Sau khi thay lông sẽ chuyển sang bộ lông trưởng thành với mỏ xanh xám, góc mỏ đen, mắt đỏ, chân xám chì.

chim tu hú

Chim tu hú thường hót trong mùa sinh sản (tháng ba và tháng tám ở Nam Á). Với loạt giọng khác nhau. Tiếng hót của chim mái là kik – kik – kik,… tiếng hót của chim trống là koo-ooo,… Và nhiều giọng hót khác nhau trong quần thể loài chim này. Chim tu hú kêu báo hiệu mùa hè và mùa vải ở nước ta đã tới.

Nơi sinh sống của chim tu hú

Chim tu hú sống ở những khu rừng thưa nhiều ánh sáng. Chủ yếu phân bố ở Việt Nam, Lào, Thái Lan, Campuchia, Mã Lai và phía đông Nam Trung Quốc. Ở nước ta, chim tu hú phân bổ chủ yếu ở các khu vực đồng bằng và trung du. Mùa Đông ở miền Bắc rất ít khi gặp được loài này. Vì chúng thường bay về phương Nam tránh rét.

Chim tu hú ăn tạp. Chúng ăn tất cả các loại sâu bướm, côn trùng, trứng và động vật có xương sống nhỏ và ăn cả trái cây. Tu hú mẹ còn không có khả năng nuôi con. Vì chúng chuyên ăn sâu, ăn cả con sâu có độc tố, nọc độc. Cơ thể chim tu hú đã trưởng thành có khả năng miễn nhiễm với nọc độc. Nhưng chim tu hú con thì chưa có hệ thống miễn nhiễm đó. Do vậy nếu ăn phải loại sâu có độc tố chúng sẽ có thể chết. Do đó để duy trì nòi giống và tránh tạo nguy hiểm cho tu hú con. Chim tu hú mẹ cần phải nhờ tới các loài chim khác để nuôi con nó. Người ta gọi đó là “chiến thuật gửi trứng tu hú

Chiến thuật gửi trứng tu hú

Trong thế giới tự nhiên, bất cứ một loại nào đều được sinh ra, nuôi dưỡng cũng như dạy dỗ bởi bố mẹ mình. Nhưng đời sống của loài chim tu hú lại nằm ngoài quy luật đó. Như đã nói trên đặc điểm của chim tu hú. Thay vì làm tổ, đẻ trứng, ấp và chăm con như các loại chim khác. Vào mùa sinh sản chim tú hú thường tìm tổ chim chích và gửi trứng của mình ở đó.

Sau khoảng một tới hai ngày chim chủ đẻ trứng đầu tiên của mình vào tổ. Thì chim tu hú sẽ tìm cách đẻ trứng của mình vào đó. Quả trứng của chim tu hú đẻ ra có kích thước gần bằng với kích thước trứng của chim chích. Hoa văn cũng rất giống nên cặp đôi chim chích không nhận ra. Và vô tư ấp nở như lẽ tự nhiên.

Chim tu hú mái còn biết và tính toán được thời gian mà trứng của chúng sẽ nở. Chim tu hú non sẽ nở trước hoắc ít nhất là bằng với chim chích con. Thường thì trứng của chim tu hú thường nở trước khoảng 3 ngày so với trứng của chim chủ nhà. Chim tu hú mẹ trước bỏ đi nó còn tẩm bổ cho mình bằng một quả trứng chim chích non mới được một hai ngày tuổi.

“Ác” từ trong trứng nước

Tuy nhiên, mọi việc chưa dừng lại ở đó. Điều khiến các nhà khoa học và con người ngạc nhiên là: Ngày từ khi chim tu hú con mới nở, đỏ hỏn, mắt còn chưa kịp mở. Chúng đã tiếp tục thể hiện bản chất độc ác của giống nòi nhà mình. Tu hú non mang trong mình gen di truyền về “chiến lược” và sự tinh quái. Nó nhanh chóng dùng sức mạnh của cơ bắp, đôi cánh và phần lưng của mình để đẩy chim chích non tội nghiệp mới nở hoặc những quả trứng còn lại chưa kịp nở văng ra khỏi tổ. Chúng thực hiện việc này với âm mưu là độc chiếm nguồn thức ăn nuôi bầy con non của cặp chim chích bố mẹ.

chiến thuật gửi trứng của tu hú

Tuy nhiên, khi chim bố mẹ bay về tổ, chim tu hú con lại giả thành một đứa con ngoan ngoãn. Đang đói bụng mong ngóng bố mẹ trở về.

Vợ chồng chim chích thì bị lừa gạt nhưng vẫn tin tưởng rằng đó là đứa con bấy lâu của mình. Hàng ngày vẫn chăm chỉ phục vụ, tìm kiếm thức ăn. Cho cái mồm rộng ngoác luôn kêu đói của đứa “con nuôi” độc ác.

Kể từ đó, chim tu hú non lớn lên nhanh chóng. Và suốt ngày đòi hỏi thức ăn từ đôi chim bố mẹ nuôi bé nhỏ tội nghiệp. Khi đã đủ lông đủ cánh. Tu hú con sẽ bay đi không một lời cảm ơn kẻ đã nuôi dưỡng chúng thành thục. Loại chim này lớn lên nếu là con mái lại tiếp tục đi gửi trứng vào các ổ chim chích khác. Đúng như bản năng của loại chim có một không hai trong thế giới tự nhiên.

Hiện tượng gửi trứng của chim tu hú vào ổ chim khác là một hiện tượng khá kỳ quái, gian ác và nham hiểm. Việc này chẳng ai dạy cho chúng. Nó tự biết cách sử dụng máng khéo để đánh lạc hướng chim chích. Dụ chim mẹ ra khỏi tổ để đẻ trứng của mình. Thông thường chim đực sẽ có nhiệm vụ làm việc này.

Như vậy, có thể thấy rằng chim tú hú là một loài chim có thói quen sinh hoạt khác biệt so với các loại chim khác. Đây là một mảnh ghép đặc biệt trong bức tranh sinh động về cuộc đấu tranh sinh tồn trong thế giới tự nhiên.

mèo rừng việt nam

Mèo rừng – Loài động vật nhỏ nhưng quý hiếm trên thế giới

Mèo rừng là loài động vật nhỏ, đáng yêu nhưng quý hiếm trên thế giới. Hiện nay, mèo rừng đang có xu hướng bị tuyệt chủng bởi sự săn lùng của nhiều người. Mong muốn thỏa mãn thú vui và hám lợi về kinh tế.

Thông tin thú vị về loài mèo rừng

Mèo rừng có tên khoa học là Felis silvestris, là một giống mèo nhỏ có nguồn gốc từ châu Âu, Tây Á và châu Phi. Được tìm thấy ở nhiều nơi trên thế giới hoặc có thể được nuôi như mèo nhà.

Môi trường sống từ xa xưa của loài này là rừng rậm, thảo nguyên, xavan. Loài mèo nhỏ này chuyên ăn thịt các loài động vật có vú nhỏ, chim, các loài thú có kích thước bằng hoặc nhỏ hơn.

mèo rừng việt nam

Đặc điểm nhận dạng của mèo rừng

Mèo rừng có kích thích tương đương giống như mèo nhà. Có lông bụng màu trắng, nhiều đốm khắp trên cơ thể. Thông thường, mèo rừng có cân nặng khoảng 4kg-9kg, chiều dài không đến 80cm. Đặc biệt, bề ngoài của con cái và con đực có hình dáng rất giống nhau.

Mèo rừng có đuôi dài, khoảng 50cm. Đuôi của chúng thường được sử dụng để giữ cân bằng cho cơ thể khi leo trèo, di chuyển.

Đây là loài động vật chuyên hoạt động vào ban đêm nên mắt của chúng rất to, sáng. Để có thể nhìn và di chuyển trong môi trường đầy bóng tối. Mèo rừng chủ yếu sống ở trên cây. Thức ăn của chúng là các loài động vật như sóc, thú có túi, con lười, con nhím, con ếch, con thằn lằn và chim,…

Mèo rừng tự nhiên có tuổi thọ khoảng 10 năm. Nhưng nếu sống trong môi trường được nuôi dưỡng như sở thú thì con số này lên đến là 20 năm.

Mèo rừng Việt Nam quý, hiếm và khó tìm

Mèo rừng Việt Nam được đánh giá là một trong những loài khó tìm nhất trên thế giới. Đây là loài động vật có tên gọi là mèo gấm, hay còn gọi là mèo cẩm thạch.

Mèo gấm có bộ lông đẹp nhất trong họ nhà mèo, thuộc chi Pardofelis. Thường sinh sống ở các khu rừng Đông Nam Á. Loài mèo này có họ hàng với báo lửa. Chúng cùng với mèo lửa xứ Borneo Pardofelis badia hợp thành chi Pardofelis.

Kích thước của mèo gấm gần tương đương như mèo nhà. Chiều dài khoảng 60cm, trọng lượng từ 2-5kg và đặc biệt đuôi khá dài lên đến 55cm.

Điểm đặc biệt của mèo gấm là bộ lông tuyệt đẹp. Cằm và dưới môi có màu trắng hoặc vàng nhạt, sau tai có đốm trắng. Mèo gấm có lớp lông dày, mịn, màu xám xanh hoặc xám nâu, nhiều hoa văn cẩm thạch xung quanh. Chân và đuôi của mèo gấm có nhiều đốm thẫm.

Mèo rừng Việt Nam đang phải đứng trước nguy cơ bị suy giảm về số lượng. Nguyên nhân là vì bộ lông sặc sỡ nên nhiều người đã tìm cách săn bắt để làm thú nuôi hoặc lấy lông. Ngoài ra, với tình trạng nạn phá rừng xảy ra càng nhiều làm cho môi trường sống của mèo rừng cũng bị thu hẹp.

Hiện nay, trên thế giới số lượng cá thể mèo gấm còn vào khoảng 10.000 con. Và vẫn đang tiếp tục giảm. Chính vì vậy, mèo gấm ở Việt Nam đã được liệt vào danh mục động vật sách đỏ. Cần phải có chính sách bảo vệ cấp thiết.

Mèo châu Á – Nét đặc sắc tạo nên sự đa dạng loài mèo rừng

Mèo rừng châu Á hay còn gọi là mèo thảo nguyên châu Á, mèo sa mạc Ấn Độ. Có tên khoa học là Felis silvestris ornata. Thường sống chủ yếu ở sa mạc Rajasthan, đầm lầy mặn Kutch. Gồm cả vùng đồng cỏ Banni của Ấn Độ và vùng sa mạc Sindh ở Pakistan nằm ngay bên cạnh.

mèo rừng châu á

Mèo rừng châu Á có quan hệ họ hàng với mèo châu Phi. Kích thước lớn hơn so với mèo nhà. Đây là loại mèo có lông màu vàng nhạt ở cơ thể, đốm đen ở lưng, vằn đen ở chân và phần bụng lông trắng nhạt. Đặc biệt, mắt của mèo rừng châu Á có màu vàng.

Mèo rừng châu Á thích ăn những loài động vật nhỏ có vú, các loài gặm nhấm. Đây cũng là loài động vật sát thủ về đêm, chúng chủ yếu hoạt động vào ban đêm.

Hiện nay, số lượng lớn mèo rừng châu Á được quy tụ tại khu bảo tồn động vật hoang dã Jalore. Tọa lạc gần Jalore, Rajasthan, Ấn Độ. Đây là địa điểm giúp bảo tồn loài động vật nhanh nhẹn, đáng yêu trên thế giới.

13 loài mèo rừng đẹp nhất trên thế giới

Trên thế giới có rất nhiều loài mèo rừng đáng yêu. Trong số đó có thể bạn cũng đã từng nghe qua. Dưới đây là danh sách 13 loài mèo rừng tuyệt đẹp trên thế giới:

  1. Mèo cát

Mèo cát có tên khoa học là Felis margarita. Thường sinh sống ở các vùng sa mạc của châu Á và châu Phi. Loài mèo này có kích thước khá nhỏ, chân ngắn, đuôi dài. Đặc biệt là tai lớn và nhọn. Đây là loài mèo có thể không uống nước trong nhiều tháng mà vẫn sống sót được. Lý do đặc biệt là chúng tận dụng triệt để lượng nước trong cơ thể của con mồi.

  1. Mèo chân đen

Mèo chân đen có tên khoa học là Felis nigripes. Sống đơn độc và thường chọn những nơi yên tĩnh để sinh sống. Đây là một trong những loài mèo có đôi tai nhỏ nhất trên thế giới.

  1. Linh miêu Canada

Linh miêu Canada có tên khoa học là Lynx canadensis. Chúng có bộ lông màu xám nâu dày, chân dài. Giúp chúng di chuyển nhanh trong điều kiện trời tuyết dày.

  1. Mèo manul hay mèo Pallas

Mèo manul hay mèo Pallas, có tên khoa học là Otocolobus manul. Kích thước tương đương với loài mèo nhà. Hiện nay, loài mèo này đang bị đe dọa suy giảm số lượng. Bởi môi trường sống bị tàn phá và lượng thức ăn hạn hẹp.

mèo manul

  1. Linh miêu tai đen

Loài mèo này còn được gọi với cái tên khác là Mãn rừng. Có tên khoa học là Caracal caracal, chuyên săn mồi vào ban đêm. Đặc điểm nổi bật của loài mèo này là có thể săn mồi trên cây, mặt đất và thậm chí là bơi để bắt cá.

  1. Báo gấm hay báo mây

Mèo rừng này có tên khoa học là Neofelis nebulosa, có thân hình nhỏ nhắn nhưng nhanh nhẹn. Đây là loài mèo có răng nanh dài nhất trên thế giới.

  1. Mèo Pampas

Có tên khoa học là Leopardus pajeros, môi trường sống khá đa dạng từ rừng khô. Với độ cao lên tới 5.000m cho đến đồng cỏ, thảo nguyên rộng lớn.

  1. Mèo rừng hay mèo báo

Loài mèo này có tên khoa học là Prionailurus bengalensis, sinh sống ở  Đông Nam Á và Nam Á. Đây là loài mèo có bộ lông đốm giống báo. Nhưng tuyệt nhiên không có quan hệ họ hàng với loài báo.

  1. Mèo cây châu Mỹ hay Mèo rừng châu Mỹ

Đây là loài mèo có quan hệ họ hàng gần với loài báo sư tử. Tuy nhiên, loài mèo này có kích thước nhỏ, thường sống ở Trung Mỹ và Nam Mỹ.

  1. Mèo cá

Tên khoa học của loài mèo này là Prionailurus viverrinus. Sống ở khu vực Đông Nam Á và Nam Á. Điểm đặc biệt của loài mèo này là môi trường sống ở các con sông, suối, hồ, đầm lầy. Thức ăn của chúng chủ yếu là cá và tất nhiên mèo cá bơi giỏi nhất trong số các loài mèo trên thế giới.

  1. Mèo đồng cỏ châu Phi

Mèo rừng này có tên gọi là Leptailurus serval. Có kích thước trung bình nhưng hình dáng thanh mảnh, chân dài, đuôi ngắn. Đặc trưng của loài mèo này là có thể chạy với tốc độ tối đa 80km/ giờ. Di chuyển 3-4km mỗi đêm để tìm kiếm thức ăn. Loài vật này có đôi tai lớn, thính nên chúng có thể phát hiện ra con mồi ngay cả ở trong lòng đất.

  1. Báo lửa hay beo vàng châu Á

Loài mèo rừng này có tên khoa học là Pardofelis temminckii. Thường sống ở những khu rừng gần với các dãy núi đá. Một số tộc người  Karen của Thái Lan tin rằng: Một sợi lông của báo lửa chính là bùa hộ mệnh an toàn cho họ thoát khỏi con hổ khi đi săn bắn.

báo lửa

  1. Mèo núi Andes

Mèo núi này có tên khoa học là Leopardus jacobitus. Sinh sống ở độ cao khoảng 3.500 – 4.800m. Mèo rừng này có kích thước tương đương với mèo nhà nhưng lông dày và đuôi dài hơn.

Đối với những người yêu thích loài động vật nhỏ nhắn, nhanh nhẹn, đáng yêu này thì thông tin trên là vô cùng thú vị cho họ tìm hiểu. Để bảo tồn cho loài mèo rừng quý giá, mỗi chúng ta cần phải chung tay bảo vệ môi trường, ngăn chặn tình trạng săn bắn để loài mèo có thể sinh sống và phát triển an toàn trong tự nhiên.