Trang 2 trên 2

Gấu chó tất cả những thông tin cần biết

Gấu chó tên khoa học Helarctos malayanus, được phát hiện chủ yếu ở các rừng mưa nhiệt đới ở Đông Nam Á. Là loài động vật được xếp vào nhóm IB. Trong sách đỏ IUCN xếp vào loại sắp nguy cấp, còn sách đỏ Việt Bam là loài nguy cấp cần được bảo tồn.

gấu chó

Đặc điểm của gấu chó

  • Là loài nhỏ nhất của họ Gấu, có chiều dài khoảng 1,2m, cao khoảng 0,7m. Nặng không quá 65kg.
  • Đuôi ngắn: 3 – 7cm.
  • Nặng: không quá 65kg. Gấu đực nặng hơn so với gấu cái một chút.
  • Lông màu đen sẫm hoặc nâu đen. Phần ngực có màu vàng da cam nhạt giống hình chữ U, móng ngựa. Xung quanh mõm và mắt cũng có màu tương tự như vậy.
  • Tai tròn và ngắn, mõn ngắn.

Phân bố: Khu vực phía đông dãy Himalaya đến Tứ Xuyên, Trung Quốc. Trải rộng về phía Nam tới Myanma, Malaysia, một phần của bán đảo Đông Dương.

gấu chó

Đặc trưng

Môi trường sinh sống của gấu chó là vùng đấy thấp nóng ẩm nên lông của chúng mượt và ngắn.

Gấu chó có khối lượng tương đối nhẹ, vuốt hình lưỡi liềm. Bàn chân to, gan bàn chân trần để hỗ trợ việc leo trèo dễ dàng hơn. Chân của loài gấu này hướng vào trong nên bước đi như đi vòng kiềng. Chúng là loại động vật leo trèo rất giỏi.

Gấu chó chủ yếu ăn đêm, thích tắm nắng, nghỉ ngơi vào ban ngày trên cành cây to cách mặt đất 2 – 7m. Phần lớn thời gian chúng ở trên cây nên có thể gây tổn thất nặng nề cho cây trồng. Gấu chó được coi là kẻ phá họa ca cao và dừa trong các đồn điền. Tập tính này cũng chính là lý do khiến số lượng gấu chó giảm dần.

gấu chó

Chế độ ăn của gấu chó

Gấu chó là loài động vật ăn tạp. Thức ăn thường là những động vật nhỏ hơn như chim, sóc, chuột… Hoặc quả mọng, lá cây như ngọn cây dừa, chồi cây, trứng, mối, mật ong, quả ca cao…

Gấu chó có mắt rất kém nhưng bù lại khứu giác lại rất tốt. Chính vì thế mà phần lớn thức ăn của chúng kiếm được là nhờ vào khứu giác.

Sinh sản

Gấu chó không ngủ đông nên có thể sinh sản quanh năm. Chúng mai thai trong 96 ngày, sinh con non có trọng lượng khoảng 280 – 340g. Thường sinh 2 con. Gấu mẹ cho con non bú trong khoảng 18 tháng. Sau 3 – 4 năm gấu đạt độ tuổi trưởng thành.

Trong điều kiện nuôi nhốt, gấu chó có thể sống lên đến 28 năm.

gấu chó

Gấu chó là loài động vật đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng tại Việt Nam và trên thế giới. Do đó cần được bảo tồn. Mỗi người cần có ý thức hơn trong việc bảo tồn chúng. Cụ thể:

  • Ủng hộ các chiến dịch chống săn bắt trộm gấu chó, cũng như các loại động vật khác.
  • Không mua hay ủng hộ những công ty bán lông, túi mật hoặc bộ phận nào của gấu chó.
  • Tuyên truyền cho người dân ở khu vực có gấy chó về cách thức bảo vệ mùa màng thay vì giết gấu chó.
Gà rừng

Gà rừng loài vật mang lại giá trị cao

Gà rừng loài loài động vật quý hiếm và có giá trị kinh tế cũng như thẩm mĩ cao. Đây là loài động vật đang có nguy cơ tiệt chủng và bị thuần hóa cao cần được bảo vệ. Bài viết hôm nay chúng ta cùng tìm hiểu rõ hơn về loài động vật này nhé.

Thông tin về loài gà rừng

Tên thường gọi: Gà rừng

Tên khoa học: Gallus gallus jabouillei

Gà rừng Việt Nam thuộc họ gà rừng lông đỏ Gallus gallus, phân bố ở những vùng núi. Hiện nay, nó đang là đối tượng bị nhiều người săn bắt để lấy thịt và sử dụng làm gà cảnh.

Gà rừng
Gà rừng

Đặc điểm hình dạng

Gà rừng việt nam là phân loài chim lớn có thể nặng tới 1-1,5 kg, cánh dài 20-25 cm.

  • Màu lông: Gà trống có lông đầu và cổ màu đỏ cam, long lưng và cánh là đỏ thẫm, lông ngực bụng và đuôi là màu đen. Gà mái nhỏ hơn so với gà trống, lông toàn thân là màu nâu xỉn
  • Mắt có màu nâu hoặc vàng cam
  • Mỏ là nâu sừng hoặc xám chì
  • Chân xám nhạt, chân chì, cựa dài nhọn
  • Tai trắng phau
  • Thành phần trong thịt gà chứa 24,4% protid, 4,8% lipid, 14 mg% Ca, 263 mg% P, 0,4 mg% Fe và một số vitamin
Một cặp gà rừng
Một cặp gà rừng

Tập tính và phân bố

  • Gà rừng thường sinh sống ở vùng núi và nhiều loại rừng khác nhau.
  • Môi trường sống thích hợp là những nương rẫy và những rừng tre nứa.
  • Chúng thường sống theo bầy đàn vào lúc sáng sớm và xế chiều. Buổi tối chúng thường ngủ trên cành cây.
  • Gà rừng sinh sản tốt vào tháng 3 vì thời kỳ này gà trống gáy nhiều lúc sáng sớm và hoàng hôn.
  • Gà thường sống theo từng cặp, tổ làm đơn giản trên bụi cây, tổ rất khó tìm, chúng thường đẻ trứng ở bãi cỏ rậm rạp và ngụy trang kín đáo.
  • Mỗi lứa đẻ 5-10 trứng và ấp khoảng 20-21 ngày là con non nở.
  • Gà rừng được coi là loài vật tinh khôn, chúng rất nhút nhát nên khi có tiếng động lạ là sẽ bay đi luôn.
  • Thức ăn chủ yếu là côn trùng như mối, kiến, giun đất, châu chấu, nhái. Và ăn cả những quả mềm như thóc, gạo, sung, đa, si.

Công dụng của gà rừng

Theo kinh nghiệm dân gian thịt gà rừng được dùng chữa:

  • Chứng xích bạch đới
  • Tả lỵ lâu ngày
  • Suy yếu sinh lý
  • Chữa ngộ độc nhãn rừng
  • Chữa gân xương đau mỏi, chân tay run rẩy là chân gà (hay nhất là chân gà trống)

Tình trạng hiện nay

Trước kia gà rừng thường sống gần vùng dân cư, nó còn giao phối với gà nhà. Nhưng do tệ nạn săn bắt gàn rừng ngày càng lớn dẫn đến số lượng giảm sút mạnh.

Gà rừng nuôi làm cảnh
Gà rừng nuôi làm cảnh

Với giá trị kinh tế cao, hiện nay giá thịt của nó giao động khoảng 300 nghìn đồn/con. Họ sử dụng rất nhiều hình thức khác nhau để săn bắt như bẫy, thậm chí là có cả súng kíp, cung nỏ.

Việc gà rừng có giá trị nghệ thuật cao nên đây cũng là loài vật được sử dụng làm cảnh rất phổ biến hiện nay.

Những cách săn bắt gà rừng như: gà mồi, băng đĩa cassette, chiếc bẫy giò và vô số bẫy bộng, bẫy lối mòn, thức ăn, nước uống khá đầy đủ.

Như vậy chúng ta đã cùng nhau tìm hiểu xong về loài gà rừng và những đặc điểm, tập tính. Chúng ta cần lên án mạnh mẽ những đối tượng săn bắt và tàng trữ gà rừng để giữ lại nguồn giống  và cân bằng hệ sinh thái.

Nguồn tham khảo: https://vi.wikipedia.org/wiki/G%C3%A0_r%E1%BB%ABng_Vi%E1%BB%87t_Nam

Báo gấm loài động vật đang có nguy cơ tuyệt chủng cần bảo vệ

Báo gấm có tên khoa học là Neofelis nebulosa, thuộc họ Mèo cỡ trung bình. Đây là loài động vật đang có nguy cơ bị tuyệt chủng cao, cần được bảo vệ. Cùng tìm hiểu rõ hơn về loài báo gấm này nhé!

Đặc điểm của báo gấm

  • Là loại động vật thuộc họ Mèo cỡ trung bình có chiều dài toàn thân lên đến 60 – 110cm, nặng 11 – 20kg.
  • Có lâu màu hung hoặc nâu, điểm thêm những hình elip lớn, không đều. Những gờ màu sẫm trên lông báo trong như đám mây nên còn được gọi là báo mây.
  • Dựa trên cấu trúc hộp sọ thì báo gấm có đặc tính khác biệt là thành viên duy nhất của chi này.
  • Tuổi thọ: 17 năm nếu bị giam cầm, trong tự nhiên thì báo gấm có tuổi thọ thấp hơn.

báo gấm

Đặc trưng

Thân hình cân đối, săn chắc

Báo gấm có thân hình rất cân đối và săn chắc, có răng nanh dài. Do đó, giả thuyết đưa ra chúng là loài động vật săn bắt động vật có vú lớn sống trên mặt đất.

Săn bắt động vật có vú trên cây và mặt đất

Hiện nay, tập tính của loài báo này trong thiên nhiên vẫn chưa được làm rõ. Chúng thường săn bắt các loài động vật có vú sống trên cây. Chẳng hạn như khỉ đuôi lợn, vượn, khỉ Proboscis. Bên cạnh, báo gấm còn sẵn các loài động vật có vú khác như nai, hươu, nhím…

Báo gấm giỏi leo trèo

Nguồn thức ăn chính là động vật có vú sống trên cây nên chúng rất giỏi leo trèo. Bốn chân ngắn và rất khỏe, lòng bàn chân rộng có móng vuốt sắc đều nhau.

Có đuôi dài xấp xỉ bằng cả thân để giữa thăng bằng khi leo trèo trên cây. Đặc biệt, báo gấm có thể gi chuyển khi treo người ngược đầu xuống, phía dưới cành cây, thân cây nghiêng.

báo gấm

Phân bố và phân loại

Báo gấm sinh sống ở có cánh rừng nhiệt đới và cận nhiệt đới với độ cao 2000m. Đôi khi chúng cũng xuất hiện ở ven đầm lấy có đước mọc hoặc đồng cổ. Phân bố ở khu vực miền nam Trung Quốc, phía đông dãy Himalaya, quần đảo Indonesia.

Hiện nay, báo gấm có 4 nòi và phân bố ở các khu vực khác nhau:

  • Neofelis nebulosa nebulosa: Nam Trung Quốc
  • Neofelis nebulosa brachyurus: Đài Loan (tuyệt chủng)
  • Neofelis nebulosa macrosceloides: Nepal tới Miến Điện.
  • Neofelis nebulosa diardi: Indonesia, đây là loài cuối với danh pháp Neofelis diardi.

Tập tính của báo gấm

Là loài động vật sống trên cây nên có sự nhanh nhẹn giống như mèo rừng Nam Mỹ và sóc.

Báo gấm có thói quen treo mình bằng hai chân sau và cái đuôi dài đu đưa giúp giữ cân bằng. Chúng cũng có thói quen treo ngược đầu xuống trên thân cây. Tuy nhiên, tập tính này hiện còn rất ít.

Tập tính của báo gấm trong tự nhiên, con người biết rất ít. Thường giả thiết, chúng là động vật sống chủ yếu trên cây. Săn mồi bằng cách nhảy từ trên cây xuống chộp con mồi.

Báo gấm có bản chất rất bí mật nên nơi ở của chúng con người cũng không biết nhiều. Người ta cho rằng chúng là loài sống cô độc và chỉ tiếp cận với con khác khi đến mùa sinh sản hoặc đang nuôi con nhỏ.

Chúng chủ yếu hoạt động về đêm, nhưng cũng có thể thấy vào ban ngày.

Sinh sản

Độ tuổi sinh sản: 2 năm và có thể 1 lần/năm.

Thời gian mang thai trong khoảng 85 – 93 ngày. Mỗi lần báo gấm cái sinh từ 1 – 5 con nhỏ. Con non rất yếu ớt chưa mở mắt. Đốm của con non có màu sẫm.

Báo gấm con có thể mở mắt nhìn được sau khoảng 10 ngày. Và sau hơn 1 tháng chúng có thể hoạt động được. Khoảng 10 tháng sau thì những con non có thể trở thành một cá thể sống độc lập.

báo gấm

Bảo tồn và các mối đe dọa

Do không xác định được nơi cư trú của báo gấm nên các ước tính về số lượng là không có. Hiện nay, tình trạng tàn phá rừng nặng nề và săn bắn trái phép mà số lượng báo gấm bị suy giảm nghiêm trọng.

CITES là Hiệp ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã đang gặp nguy hiểm đã đưa báo gấm vào một trong số các loài đang gặp nguy hiểm nhất.

Tại những quốc gia có báo gấm thì cấm săn bắt nhưng không đem lại hiệu quả.

Trên đây là những thông tin về loài báo gấm đang có nguy cơ tuyệt chủng. Mỗi người cần có ý thức bảo vệ động thực vật tốt hơn để thảm sinh thực vật tự nhiên trên trái đất luôn được cân bằng.

voọc mũi hếch

Voọc mũi hếch sinh vật đặc hữu chỉ có tại Việt Nam

Voọc mũi hếch là loài linh trưởng cực hiếm trên thế giới. Những năm nước ta được biết đến là nơi duy nhất có sự tồn tại và phát triển của loài voọc mũi hếch này.

Thông tin về loài voọc mũi hếch

Voọc mũi hếch có tên khoa học là Rhinopithecus avunculus. Đây là một trong số 25 loài linh trưởng quý hiếm và nguy cấp của thế giới, hiện nay chỉ có duy nhất ở Việt Nam.

Chúng phân bố chủ yếu ở các tỉnh Tuyên Quang, Quảng Ninh, Yên Bái, Cao Bằng. Với bản tính nhút nhát voọc mũi hếch thường sống trên tần cây cao, rất ít khi vooc xuống đất, nếu buộc phải di chuyển chúng sẽ di chuyển rất khéo léo

voọc mũi hếch

Đặc điểm: Voọc mũi hếch có lông màu nâu đen, lông quanh mặt và trên đầu có màu trắng nhạt. Đuôi dài hơn thân.

Voọc mũi hếch thường sống thành bầy đàn trên núi cao, con đầu đàn có nhiệm vụ cảnh giới và bảo vệ, khi phát hiện nguy hiểm chúng sẽ kêu “chặc chặc… chặc chặc…” báo hiệu cho đàn thoát hiểm. Voọc thường kiếm ăn từ 6h đến 17h hàng ngày, thức ăn của chúng gồm hoa nghiến, nõn lá, vải rừng, dâu da, vải rừng…

Gia đình của loài khỉ này có mức sống rất chuẩn mực. Bố mẹ rất chăm lo cho voọc. Đặc biệt là khi chúng phải sống ở khu vực thời tiết rất khắc nghiệt. Khí hậu khô ẩm, và mùa đông rất lạnh.

Hiện nay, số lượng voọc mũi hếch trong tự nhiên chỉ còn dưới 200 cá thể. Sống theo đàn từ 8 đến 20 con. Kẻ thù của voọc mũi hếch là các loài thú lớn. Voọc mũi hếch được xếp vào mức độ cực kỳ nguy cấp trong Sách đỏ về các loài động vật bị đe dọa của Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên thế giới và Việt Nam.

Cách loài thuộc chi voọc mũi hếch

  • Voọc mũi hếch vàng (Rhinopithecus roxellana)
  • Voọc mũi hếch vàng Moupin (Rhinopithecus roxellana roxellana)
  • Voọc mũi hếch vàng Tần Lĩnh (Rhinopithecus roxellana qinlingensis)
  • Voọc mũi hếch vàng Hồ Bắc (Rhinopithecus roxellana hupeiensis)
  • Voọc mũi hếch đen (Rhinopithecus bieti)
  • Voọc mũi hếch xám (Rhinopithecus brelichi)
  • Voọc mũi hếch Bắc Kỳ (Rhinopithecus avunculus)
  • Voọc mũi hếch Myanmar (Rhinopithecus strykeri)

voọc mũi hếch

Thành lập khu bảo tồn voọc mũi hếch

Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên quốc tế Fauna and Flora International (FFI) đã kết hợp cùng Chính phủ Việt Nam thành lập khu bảo tồn cho loài voọc mũi hếch tại khu vực rừng Khau Ca, tỉnh Hà Giang.

Khu bảo tồn này có tên là “Khu bảo tồn loài và sinh cảnh voọc mũi hếch Hà Giang” với tổng diện tích lên tới 2.000 ha cho 90 con voọc mũi hếch. Loài voọc này có tên khoa học là Rhinopithecus avunculus và thường sống ở các khu rừng cận nhiệt đới.

Tuy nhiên, do nạn phá rừng nên hiện nay ở trên thế giới chỉ còn khoảng hơn 200 con chia làm 4 loại, trong đó 3 loài ở Trung Quốc và một loài ở Việt Nam. Voọc mũi hếch chính là linh trưởng hiếm nhất nước ta chỉ xuất hiện ở hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang. Trước đây voọc mũi hếch chúng gần như bị tuyệt chủng nhưng đã được phát hiện trở lại vào năm 1990 tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang.  

Công tác bảo vệ và phát triển voọc mũi hếch

  • Ban quản lý khu bảo tồn loài sinh cảnh voọc mũi hếch Khau ca. Và chi cục kiểm lâm tỉnh Hà Giang có chức năng và nhiệm vụ thực thi pháp luật bảo vệ và quản lý rừng. Nhằm đảm bảo sự sống còn của loài voọc mũi hếch cũng như các sinh vật khác ở khu vực Khau Ca.
  • Vườn thú San Diego Hoa Kỳ hiện có vai trò chủ chốt trong công tác bảo tồn các loài voọc ở Châu Á. Vườn thú San Diego đã làm việc cùng với chi cục Kiểm lâm Hà Giang, ban quản lý khu bảo tồn loài và sinh vật cảnh voọc mũi hếch Khau Ca và các đối tác nhằm tìm kiếm giải pháp khả thi cho sự cộng sinh của con người cũng như các loài động, thực vật khác ở Khau Ca.
  • Vườn thú Denver Hoa Kỳ cũng đã tham gia vào dự án bảo tồn loài Voọc mũi hếch từ năm 2009. Cán bộ của vườn thú đã làm việc với các trường tiểu học tại 3 xã Yên Định, Minh Sơn và Tùng Bá của huyện Bắc Mê. Về việc xác định mục tiêu giảng dạy cho học sinh về loài voọc mũi hếch. Cung cấp cho các em học sinh và gia đình cơ hội tham gia vào việc bảo tồn loài voọc này.
  • Trường đại học Colorado tại Boulder (Hoa Kỳ) đã tham gia vào các nỗ lực nghiên cứu cũng như bảo tồn Voọc mũi hếch tại Khau Ca từ năm 2004. Các hoạt động tập trung vào thu thập số liệu sinh thái, tập tính của loài vật này. Đây là những thông tin rất quan trọng với việc lập kế hoạch bảo tồn lâu dài loài Voọc mũi hếch.

Thực trạng bảo tồn hiện nay

Thực tế, nhờ nỗ lực của các cơ quan chức năng mà các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ, quản lý khu vực sinh sống của Voọc mũi hếch đã thuyên giảm đáng kể trong những năm vừa quan. Các hoạt động săn bắn, sử dụng và buôn bán đã không còn. Người dân và các nhà khoa học đã phát hiện thêm một vài cá thể Voọc mũi hếch non và đang trưởng thành ở những đàng Voọc mũi hếch tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Voọc mũi hếch tại Khau Ca.

voọc mũi hếch

Cùng với việc đẩy mạnh tuyên truyền giúp nâng cao nhận thức của cộng đồng để bảo vệ loài Voọc mũi hếch thì công án các huyện cũng tổ chức tuyên truyền cho người dân giao nộp súng săn, vật liệu nổ cũng như bẫy động vật hoang dã. Bên cạnh đó là kiện toàn tổ chức quản lý, công tác bảo vệ rừng, phòng cháy rừng tại các địa bài có Voọc mũi hếch sinh sống.

Việc bảo tồn quần thể Voọc mũi hếch tại Khau Ca cũng gặp phải một số khó khăn do Khau ca có diện tích nhỏ, không đảm bảo cho loài vật này sinh sống, tồn tại cũng như phát triển lâu dài.

Bên cạnh công tác bảo tồn là nâng cao khả năng nhận thức cho người dân đặc biệt là các hộ dân đang sinh sống gần khu bảo tồn Khau Ca là rất quan trọng và hết sức cần thiết, tạo ra hành lang sinh cảnh cho rừng cũng như  loài Voọc mũi hếch phát triển.

Tại khu bảo tồn thiên nhiên Khau Ca, những cánh rừng vùng biên giới Tả Ván, Cao Mã Pờ,… Ở đó, Voọc mũi hếch loài linh trưởng quý hiếm nhất trên thế giới đã và đang hồi sinh bởi quyết tâm bảo tồn của mỗi chúng ta.

rắn Eastern Brown

Top 10 loài rắn độc nhất thế giới, một phát cắn là “đi theo” tổ tiên ngay

10 loài rắn độc nhất thế giới này được tổng hợp dựa trên nghiên cứu và so sánh các loài rắn độc trên thế giới với nhau. Sẽ thật thiếu sót nếu không biết tới 10 loài rắn độc nhất thế giới này.

10 loài rắn độc nhất trên thế giới

Theo phân tích, 10 loài rắn độc nhất trên thế giới bao gồm:

Rắn Taipan nội địa

Rắn taipan có tên gọi khác là rắn dữ tợn đây là loài rắn trên cạn độc nhất thế giới. Một vết cắn của chúng có thể giết chết 100 người hay 200.000 con chuột.

rắn Taipan

Theo các nhà khoa học, một lượng nọc độc rất rất nhỏ của loài rắn này độc hơn gấp 10 lần vết cắn của rắn chuông, độc hơn 50 lần so với rắn hổ mang. Người trưởng thành sẽ thiệt mạng sau 45 phút từ khi bị rắn cắn.

Rắn biển Belcher

Rắn biển Belcher là loài rắn độc dưới nước, loài rắn này nằm trong top 1 10 loài rắn độc nhất thế giới, chỉ cần vài miligram nọc độc của chúng đã đủ giết chết hàng nghìn người. Rắn biển Belchet thường bơi lượn trọng nước ấm ở Ấn Độ Dương và Nam Thái Bình Dương. Ngư dân đi biển là nạn chính của loài rắn biển này, họ gặp phải chúng khi kéo lưới từ đại dương lên.

rắn biển Belcher

Có thể bắt gặp rắn biển Belcher ở các vùng biển khơi Bắc Australia và Đông Nam Á. Thức ăn chủ yếu của chúng gồm cá nóc, cá tra và các loại các khác, đôi khi chúng ăn là các loài mực ống.

Rắn đuôi Chuông

Rắn đuôi chuông có nguồn gốc từ châu Mỹ, có thể nhận biết loài rắn này bởi tiếng rung đuôi giống với tiếng chuông. Rắn chuông là thành viên của nhà Pit Viper, nó có khả năng tấn công bằng ⅔ chiều dài của cơ thể. Các nhà khoa học cho biết, rắn chuông chưa trưởng thành lại nguy hiểm hơn con đã trưởng thành, do nó không có khả năng kiểm soát lọc độc tiêm vào cơ thể kẻ thù.

rắn đuôi chuông

Nọc độc của loài rắn đuôi chuông sẽ làm phá hủy mô, khiến các cơ quan bị thoái hóa và gây đông máu. Một vài trường hợp vết rắn cắn sẽ gây sẹo vĩnh viễn dù đã được điều trị kịp thời, nhiều ca dẫn tới mất một chi hoặc tử vong.

Triệu chứng xuất hiện khi bị rắn cắn bao gồm chảy nước dãi, tê liệt và xuất huyết tràn lan. Vết rắn đuôi chuông cắn nếu không được điều trị kịp thời sẽ dẫn tới tử vong. Tuy nhiên nếu dùng thuốc Antivenin kịp thời sẽ giảm tỷ lệ tử vong xuống dưới 4%.

Rắn hổ mang Philippines

Đây là loài rắn nằm trong top 10 loài rắn độc nhất thế giới, có khả năng phóng độc tới kẻ thù cách nó 3m, khiến con mồi chết ngay sau đó ít giây. Mặc dù chúng sở hữu vũ khí rất lợi hại nhưng loài rắn này chỉ tấn công khi bị đe dọa.

rắn hổ mang Philippines

Rắn độc Úc

Rắn độc Úc có tên tiếng Anh là Death Adder, loài rắn này rất độc ác và dã man bởi chúng thường săn lùng và giết chết các loài rắn khác, kể các các loài rắn có trong danh sách top 10 loài rắn độc nhất thế giới. Chúng là loài tấn công con mồi nhanh nhất trên thế giới.

rắn độc úc

Một vết cắn của loài rắn độc này sẽ gây bại liệt và tử vong trong khoảng 6 giờ do suy hô hấp. Triệu chứng thường đạt ở mức cao nhất trong thời gian từ 24 tới 48 giờ. Tỷ lệ tử vong do bị rắn độc Úc cắn là rất cao, lên đến 50%.

Rắn Mamba đen

Rắn Mamba đen được tìm thấy ở khắp nơi ở lục địa châu Phi. Chúng rất hung dữ, là loài rắn nhanh nhất trên thế giới, có khả năng đạt tốc độ tới 20km/h, độ tấn công chính xác đến chết người. Những con rắn này có thế tấn công con mồi 12 lần liên tiếp và giết chết từ 10 tới 25 người lớn.

rắn mamba đen châu phi

Nọc độc của rắn Mamba đen là loại Neurotoxin hoạt động cực kỳ nhanh, một vết cắn của nó chứa khoảng 100 – 120mg nọc độc, đôi khi là lên tới 400mg. Nọc độc đạt tới tĩnh mạch 0,25 mg/kg sẽ giết chết một người.

Triệu chứng ban đầu khi bị rắn Mamba đen cắn là đau xung quanh khu vực bị rắn cắn, sau đó là cảm giác ngứa ran ở trong miệng và các chi xung quanh, sốt, tầm nhìn kém, mất ngủ. Nếu người bị rắn cắn không được can thiệp y tế kịp thời thì vết cắn sẽ nhanh chóng bị biến chứng dẫn tới đau bụng nghiêm trọng, buồn nôn và nôn, đau nhức, độc thận, độc tim và liệt. Sau đó, nạn nhân sẽ bị co giật hệ hô hấp, hôn mê và tử vong. Trường hợp không có thuốc Antivenin thì tỷ lệ tử vong là 100% trong khoảng từ 15 phút tới 3 giờ.

Rắn hổ lục

Có thể tìm thấy loài rắn hổ lục này ở khắp nơi trên thế giới. 2 loài rắn độc nhất là rắn lục chuỗi và rắn lục hoa cân phân bố chủ yếu ở khu vực Trung Đông, Trung Á, đặc biệt là Trung Quốc, Ấn Độ và Đông Nam Á.

rắn hổ lục

Rắn hổ lục rất nóng tính, chúng thường hoạt động về ban đêm, sau những cơn mưa. Nạn nhất bị rắn cắn sẽ có những triệu chứng như đau, sưng, huyết áp tụt, loạn nhịp tim, hoạt tử và có thể tử vong do bị nhiễm khuẩn huyết.

Rắn Eastern Brown

Rắn Eastern Brown là loài rắn cuối cùng lọt vào top 10 loài rắn độc nhất thế giới. Nhiều người thường bị vẻ ngoài vô hại của chúng đánh lừa. Tuy nhiên, chỉ với 1/500g nọc độc của chúng có thể giết chết 1 người trưởng thành. Loài rắn này rất phổ biến ở Australia, xếp thứ 2 trên thế giới về độc cực độc.

rắn Eastern Brown

Khi trưởng thành chúng có nhiều màu sắc khác nhau, ngoài màu nâu bóng còn có một số màu khác như xám đen, vàng. Thức ăn chủ yếu của rắn Eastern Brown là động vật có xương sống như thằn lằn, ếch, chim, rắn và loài gặm nhấm.

Trên đây là 10 loài rắn độc nhất thế giới bạn cần biết tới và dè chừng khi chẳng may gặp chúng trong môi trường tự nhiên.

chim tu hú

Chim tu hú loài chim “lưu manh” nhất trong thế giới tự nhiên

Chim tu hú được mệnh danh là loài chim tàn độc, vô trách nhiệm và lưu manh bậc nhất hiện nay. Khi mới nghe tới tên của chim tu hú. Chúng ta thường liên tưởng tới loài chim hiền lành, xinh xắn. Tuy nhiên thực tế thì hoàn toàn ngược lại. Bạn đang thắc mắc tại sao đây là loài chim “tàn độc nhất” thì hãy cùng tìm hiểu ở bài viết dưới đây.

Đặc điểm của chim tu hú

Tu hú có tên khoa học là Endynamis scolopacea. Tên tiếng Anh là Asian Koe. Chúng thuộc dòng loài chim cu cu.

Đây là một loài chim cu lớn, đuôi dài 45cm. Chim tu hú trống có lông đen hoàn toàn với ánh xanh thẫm. Chim tu hú mái có lông đốm đen nhạt, trắng, mặt lưng có màu nâu đen nhạt ánh xanh lục và lốm đốm trắng. Đầu của chim mái hơi nhạt và hung hơn chim đực. Các điểm trắng dài ra thành vệt dọc ở lông đuôi và lông cánh. Vệt trắng chuyển thành vằn ngang không đều, mặc bụng trắng và có vằn đen.

Chim tu hú non có lông đen toàn thân. Sau thời kỳ thay lông đầu tiên bộ lông của nó sẽ chuyển sang màu giống của chim mái. Còn chim tu hú trống non thì có bộ lông đỏ. Sau khi thay lông sẽ chuyển sang bộ lông trưởng thành với mỏ xanh xám, góc mỏ đen, mắt đỏ, chân xám chì.

chim tu hú

Chim tu hú thường hót trong mùa sinh sản (tháng ba và tháng tám ở Nam Á). Với loạt giọng khác nhau. Tiếng hót của chim mái là kik – kik – kik,… tiếng hót của chim trống là koo-ooo,… Và nhiều giọng hót khác nhau trong quần thể loài chim này. Chim tu hú kêu báo hiệu mùa hè và mùa vải ở nước ta đã tới.

Nơi sinh sống của chim tu hú

Chim tu hú sống ở những khu rừng thưa nhiều ánh sáng. Chủ yếu phân bố ở Việt Nam, Lào, Thái Lan, Campuchia, Mã Lai và phía đông Nam Trung Quốc. Ở nước ta, chim tu hú phân bổ chủ yếu ở các khu vực đồng bằng và trung du. Mùa Đông ở miền Bắc rất ít khi gặp được loài này. Vì chúng thường bay về phương Nam tránh rét.

Chim tu hú ăn tạp. Chúng ăn tất cả các loại sâu bướm, côn trùng, trứng và động vật có xương sống nhỏ và ăn cả trái cây. Tu hú mẹ còn không có khả năng nuôi con. Vì chúng chuyên ăn sâu, ăn cả con sâu có độc tố, nọc độc. Cơ thể chim tu hú đã trưởng thành có khả năng miễn nhiễm với nọc độc. Nhưng chim tu hú con thì chưa có hệ thống miễn nhiễm đó. Do vậy nếu ăn phải loại sâu có độc tố chúng sẽ có thể chết. Do đó để duy trì nòi giống và tránh tạo nguy hiểm cho tu hú con. Chim tu hú mẹ cần phải nhờ tới các loài chim khác để nuôi con nó. Người ta gọi đó là “chiến thuật gửi trứng tu hú

Chiến thuật gửi trứng tu hú

Trong thế giới tự nhiên, bất cứ một loại nào đều được sinh ra, nuôi dưỡng cũng như dạy dỗ bởi bố mẹ mình. Nhưng đời sống của loài chim tu hú lại nằm ngoài quy luật đó. Như đã nói trên đặc điểm của chim tu hú. Thay vì làm tổ, đẻ trứng, ấp và chăm con như các loại chim khác. Vào mùa sinh sản chim tú hú thường tìm tổ chim chích và gửi trứng của mình ở đó.

Sau khoảng một tới hai ngày chim chủ đẻ trứng đầu tiên của mình vào tổ. Thì chim tu hú sẽ tìm cách đẻ trứng của mình vào đó. Quả trứng của chim tu hú đẻ ra có kích thước gần bằng với kích thước trứng của chim chích. Hoa văn cũng rất giống nên cặp đôi chim chích không nhận ra. Và vô tư ấp nở như lẽ tự nhiên.

Chim tu hú mái còn biết và tính toán được thời gian mà trứng của chúng sẽ nở. Chim tu hú non sẽ nở trước hoắc ít nhất là bằng với chim chích con. Thường thì trứng của chim tu hú thường nở trước khoảng 3 ngày so với trứng của chim chủ nhà. Chim tu hú mẹ trước bỏ đi nó còn tẩm bổ cho mình bằng một quả trứng chim chích non mới được một hai ngày tuổi.

“Ác” từ trong trứng nước

Tuy nhiên, mọi việc chưa dừng lại ở đó. Điều khiến các nhà khoa học và con người ngạc nhiên là: Ngày từ khi chim tu hú con mới nở, đỏ hỏn, mắt còn chưa kịp mở. Chúng đã tiếp tục thể hiện bản chất độc ác của giống nòi nhà mình. Tu hú non mang trong mình gen di truyền về “chiến lược” và sự tinh quái. Nó nhanh chóng dùng sức mạnh của cơ bắp, đôi cánh và phần lưng của mình để đẩy chim chích non tội nghiệp mới nở hoặc những quả trứng còn lại chưa kịp nở văng ra khỏi tổ. Chúng thực hiện việc này với âm mưu là độc chiếm nguồn thức ăn nuôi bầy con non của cặp chim chích bố mẹ.

chiến thuật gửi trứng của tu hú

Tuy nhiên, khi chim bố mẹ bay về tổ, chim tu hú con lại giả thành một đứa con ngoan ngoãn. Đang đói bụng mong ngóng bố mẹ trở về.

Vợ chồng chim chích thì bị lừa gạt nhưng vẫn tin tưởng rằng đó là đứa con bấy lâu của mình. Hàng ngày vẫn chăm chỉ phục vụ, tìm kiếm thức ăn. Cho cái mồm rộng ngoác luôn kêu đói của đứa “con nuôi” độc ác.

Kể từ đó, chim tu hú non lớn lên nhanh chóng. Và suốt ngày đòi hỏi thức ăn từ đôi chim bố mẹ nuôi bé nhỏ tội nghiệp. Khi đã đủ lông đủ cánh. Tu hú con sẽ bay đi không một lời cảm ơn kẻ đã nuôi dưỡng chúng thành thục. Loại chim này lớn lên nếu là con mái lại tiếp tục đi gửi trứng vào các ổ chim chích khác. Đúng như bản năng của loại chim có một không hai trong thế giới tự nhiên.

Hiện tượng gửi trứng của chim tu hú vào ổ chim khác là một hiện tượng khá kỳ quái, gian ác và nham hiểm. Việc này chẳng ai dạy cho chúng. Nó tự biết cách sử dụng máng khéo để đánh lạc hướng chim chích. Dụ chim mẹ ra khỏi tổ để đẻ trứng của mình. Thông thường chim đực sẽ có nhiệm vụ làm việc này.

Như vậy, có thể thấy rằng chim tú hú là một loài chim có thói quen sinh hoạt khác biệt so với các loại chim khác. Đây là một mảnh ghép đặc biệt trong bức tranh sinh động về cuộc đấu tranh sinh tồn trong thế giới tự nhiên.

mèo rừng việt nam

Mèo rừng – Loài động vật nhỏ nhưng quý hiếm trên thế giới

Mèo rừng là loài động vật nhỏ, đáng yêu nhưng quý hiếm trên thế giới. Hiện nay, mèo rừng đang có xu hướng bị tuyệt chủng bởi sự săn lùng của nhiều người. Mong muốn thỏa mãn thú vui và hám lợi về kinh tế.

Thông tin thú vị về loài mèo rừng

Mèo rừng có tên khoa học là Felis silvestris, là một giống mèo nhỏ có nguồn gốc từ châu Âu, Tây Á và châu Phi. Được tìm thấy ở nhiều nơi trên thế giới hoặc có thể được nuôi như mèo nhà.

Môi trường sống từ xa xưa của loài này là rừng rậm, thảo nguyên, xavan. Loài mèo nhỏ này chuyên ăn thịt các loài động vật có vú nhỏ, chim, các loài thú có kích thước bằng hoặc nhỏ hơn.

mèo rừng việt nam

Đặc điểm nhận dạng của mèo rừng

Mèo rừng có kích thích tương đương giống như mèo nhà. Có lông bụng màu trắng, nhiều đốm khắp trên cơ thể. Thông thường, mèo rừng có cân nặng khoảng 4kg-9kg, chiều dài không đến 80cm. Đặc biệt, bề ngoài của con cái và con đực có hình dáng rất giống nhau.

Mèo rừng có đuôi dài, khoảng 50cm. Đuôi của chúng thường được sử dụng để giữ cân bằng cho cơ thể khi leo trèo, di chuyển.

Đây là loài động vật chuyên hoạt động vào ban đêm nên mắt của chúng rất to, sáng. Để có thể nhìn và di chuyển trong môi trường đầy bóng tối. Mèo rừng chủ yếu sống ở trên cây. Thức ăn của chúng là các loài động vật như sóc, thú có túi, con lười, con nhím, con ếch, con thằn lằn và chim,…

Mèo rừng tự nhiên có tuổi thọ khoảng 10 năm. Nhưng nếu sống trong môi trường được nuôi dưỡng như sở thú thì con số này lên đến là 20 năm.

Mèo rừng Việt Nam quý, hiếm và khó tìm

Mèo rừng Việt Nam được đánh giá là một trong những loài khó tìm nhất trên thế giới. Đây là loài động vật có tên gọi là mèo gấm, hay còn gọi là mèo cẩm thạch.

Mèo gấm có bộ lông đẹp nhất trong họ nhà mèo, thuộc chi Pardofelis. Thường sinh sống ở các khu rừng Đông Nam Á. Loài mèo này có họ hàng với báo lửa. Chúng cùng với mèo lửa xứ Borneo Pardofelis badia hợp thành chi Pardofelis.

Kích thước của mèo gấm gần tương đương như mèo nhà. Chiều dài khoảng 60cm, trọng lượng từ 2-5kg và đặc biệt đuôi khá dài lên đến 55cm.

Điểm đặc biệt của mèo gấm là bộ lông tuyệt đẹp. Cằm và dưới môi có màu trắng hoặc vàng nhạt, sau tai có đốm trắng. Mèo gấm có lớp lông dày, mịn, màu xám xanh hoặc xám nâu, nhiều hoa văn cẩm thạch xung quanh. Chân và đuôi của mèo gấm có nhiều đốm thẫm.

Mèo rừng Việt Nam đang phải đứng trước nguy cơ bị suy giảm về số lượng. Nguyên nhân là vì bộ lông sặc sỡ nên nhiều người đã tìm cách săn bắt để làm thú nuôi hoặc lấy lông. Ngoài ra, với tình trạng nạn phá rừng xảy ra càng nhiều làm cho môi trường sống của mèo rừng cũng bị thu hẹp.

Hiện nay, trên thế giới số lượng cá thể mèo gấm còn vào khoảng 10.000 con. Và vẫn đang tiếp tục giảm. Chính vì vậy, mèo gấm ở Việt Nam đã được liệt vào danh mục động vật sách đỏ. Cần phải có chính sách bảo vệ cấp thiết.

Mèo châu Á – Nét đặc sắc tạo nên sự đa dạng loài mèo rừng

Mèo rừng châu Á hay còn gọi là mèo thảo nguyên châu Á, mèo sa mạc Ấn Độ. Có tên khoa học là Felis silvestris ornata. Thường sống chủ yếu ở sa mạc Rajasthan, đầm lầy mặn Kutch. Gồm cả vùng đồng cỏ Banni của Ấn Độ và vùng sa mạc Sindh ở Pakistan nằm ngay bên cạnh.

mèo rừng châu á

Mèo rừng châu Á có quan hệ họ hàng với mèo châu Phi. Kích thước lớn hơn so với mèo nhà. Đây là loại mèo có lông màu vàng nhạt ở cơ thể, đốm đen ở lưng, vằn đen ở chân và phần bụng lông trắng nhạt. Đặc biệt, mắt của mèo rừng châu Á có màu vàng.

Mèo rừng châu Á thích ăn những loài động vật nhỏ có vú, các loài gặm nhấm. Đây cũng là loài động vật sát thủ về đêm, chúng chủ yếu hoạt động vào ban đêm.

Hiện nay, số lượng lớn mèo rừng châu Á được quy tụ tại khu bảo tồn động vật hoang dã Jalore. Tọa lạc gần Jalore, Rajasthan, Ấn Độ. Đây là địa điểm giúp bảo tồn loài động vật nhanh nhẹn, đáng yêu trên thế giới.

13 loài mèo rừng đẹp nhất trên thế giới

Trên thế giới có rất nhiều loài mèo rừng đáng yêu. Trong số đó có thể bạn cũng đã từng nghe qua. Dưới đây là danh sách 13 loài mèo rừng tuyệt đẹp trên thế giới:

  1. Mèo cát

Mèo cát có tên khoa học là Felis margarita. Thường sinh sống ở các vùng sa mạc của châu Á và châu Phi. Loài mèo này có kích thước khá nhỏ, chân ngắn, đuôi dài. Đặc biệt là tai lớn và nhọn. Đây là loài mèo có thể không uống nước trong nhiều tháng mà vẫn sống sót được. Lý do đặc biệt là chúng tận dụng triệt để lượng nước trong cơ thể của con mồi.

  1. Mèo chân đen

Mèo chân đen có tên khoa học là Felis nigripes. Sống đơn độc và thường chọn những nơi yên tĩnh để sinh sống. Đây là một trong những loài mèo có đôi tai nhỏ nhất trên thế giới.

  1. Linh miêu Canada

Linh miêu Canada có tên khoa học là Lynx canadensis. Chúng có bộ lông màu xám nâu dày, chân dài. Giúp chúng di chuyển nhanh trong điều kiện trời tuyết dày.

  1. Mèo manul hay mèo Pallas

Mèo manul hay mèo Pallas, có tên khoa học là Otocolobus manul. Kích thước tương đương với loài mèo nhà. Hiện nay, loài mèo này đang bị đe dọa suy giảm số lượng. Bởi môi trường sống bị tàn phá và lượng thức ăn hạn hẹp.

mèo manul

  1. Linh miêu tai đen

Loài mèo này còn được gọi với cái tên khác là Mãn rừng. Có tên khoa học là Caracal caracal, chuyên săn mồi vào ban đêm. Đặc điểm nổi bật của loài mèo này là có thể săn mồi trên cây, mặt đất và thậm chí là bơi để bắt cá.

  1. Báo gấm hay báo mây

Mèo rừng này có tên khoa học là Neofelis nebulosa, có thân hình nhỏ nhắn nhưng nhanh nhẹn. Đây là loài mèo có răng nanh dài nhất trên thế giới.

  1. Mèo Pampas

Có tên khoa học là Leopardus pajeros, môi trường sống khá đa dạng từ rừng khô. Với độ cao lên tới 5.000m cho đến đồng cỏ, thảo nguyên rộng lớn.

  1. Mèo rừng hay mèo báo

Loài mèo này có tên khoa học là Prionailurus bengalensis, sinh sống ở  Đông Nam Á và Nam Á. Đây là loài mèo có bộ lông đốm giống báo. Nhưng tuyệt nhiên không có quan hệ họ hàng với loài báo.

  1. Mèo cây châu Mỹ hay Mèo rừng châu Mỹ

Đây là loài mèo có quan hệ họ hàng gần với loài báo sư tử. Tuy nhiên, loài mèo này có kích thước nhỏ, thường sống ở Trung Mỹ và Nam Mỹ.

  1. Mèo cá

Tên khoa học của loài mèo này là Prionailurus viverrinus. Sống ở khu vực Đông Nam Á và Nam Á. Điểm đặc biệt của loài mèo này là môi trường sống ở các con sông, suối, hồ, đầm lầy. Thức ăn của chúng chủ yếu là cá và tất nhiên mèo cá bơi giỏi nhất trong số các loài mèo trên thế giới.

  1. Mèo đồng cỏ châu Phi

Mèo rừng này có tên gọi là Leptailurus serval. Có kích thước trung bình nhưng hình dáng thanh mảnh, chân dài, đuôi ngắn. Đặc trưng của loài mèo này là có thể chạy với tốc độ tối đa 80km/ giờ. Di chuyển 3-4km mỗi đêm để tìm kiếm thức ăn. Loài vật này có đôi tai lớn, thính nên chúng có thể phát hiện ra con mồi ngay cả ở trong lòng đất.

  1. Báo lửa hay beo vàng châu Á

Loài mèo rừng này có tên khoa học là Pardofelis temminckii. Thường sống ở những khu rừng gần với các dãy núi đá. Một số tộc người  Karen của Thái Lan tin rằng: Một sợi lông của báo lửa chính là bùa hộ mệnh an toàn cho họ thoát khỏi con hổ khi đi săn bắn.

báo lửa

  1. Mèo núi Andes

Mèo núi này có tên khoa học là Leopardus jacobitus. Sinh sống ở độ cao khoảng 3.500 – 4.800m. Mèo rừng này có kích thước tương đương với mèo nhà nhưng lông dày và đuôi dài hơn.

Đối với những người yêu thích loài động vật nhỏ nhắn, nhanh nhẹn, đáng yêu này thì thông tin trên là vô cùng thú vị cho họ tìm hiểu. Để bảo tồn cho loài mèo rừng quý giá, mỗi chúng ta cần phải chung tay bảo vệ môi trường, ngăn chặn tình trạng săn bắn để loài mèo có thể sinh sống và phát triển an toàn trong tự nhiên.


Nội dung ngoài Lâm Nghiệp: