Rừng U Minh

Rừng U Minh là một khu rừng được xếp vào loại quý hiếm trên thế giới

Rừng U Minh hay vườn quốc gia U Minh là một khu rừng được xếp vào loại quý hiếm trên thế giới và được chia thành hai khu là rừng U Minh Thượng và rừng U Minh Hạ. Để hiểu hơn về khu rừng U Minh này, mời mọi người cùng tìm hiểu bài viết dưới đây nhé.

Rừng U Minh

Rừng U Minh là một khu rừng rất đặc thù và đã được xếp hạng quý hiếm độc đáo trên thế giới vì nó mang một vẻ đẹp hùng vĩ nhưng đầy hoang sơ.

Rừng U Minh
Rừng U Minh

Rừng U Minh là một khu rừng thuộc địa phận hai tỉnh Cà Mau và Kiên Giang. Rừng có diện tích rộng khoảng 2000 km2 và chia thành hai khu rõ ràng được chia cắt bởi con sông Trẹm và sông Cái Tàu đó là rừng U Minh Thượng và U Minh Hạ.

Đây cũng là một khu rừng có sự đa dạng sinh học cao với khoảng 250 loài thực vật và hơn 20 loài bò sát, 180 loài chim…

Rừng U Minh Hạ

Rừng U Minh Hạ hay còn là vườn quốc gia U Minh Hạ thuộc hai huyện U Minh và Trần Văn Thời. Ngày 20 tháng 1 năm 2006, theo quyết định số 112/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thành lập vườn quốc gia U Minh Hạ.

Ngày 26 tháng 5 năm 2009, UNESCO đưa vườn quốc gia U Minh Hạ vào danh sách các khu dự trữ sinh quyển của thế giới và là vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển Mũi Cà Mau.

Rừng quốc gia u minh hạ
Rừng quốc gia u minh hạ

Diện tích và vị trí địa lý của rừng U Minh Hạ

Rừng U Minh Hạ có diện tích rộng khoảng 82,86 km². Nó năm trên địa phận xã Khánh Lâm, Khánh An của huyện U Minh và xã Trần Hợi, Khánh Bình Tây Bắc của huyện Trần Văn Thới.

Tọa độ:

  • Từ 9°12′30″ tới 9°17′41″ vĩ bắc
  • Từ 104°54′11″ tới 104°59′16″ kinh đông

Vị trí địa lý:

  • Phía Bắc giáp tuyến 27 – Phân trại K3 thuộc trại giam K1 Cái Tàu
  • Phía Nam giáp vùng đệm kinh xáng Minh Hà
  • Phía Đông giáp kinh 100, ấp 14 xã Khánh An và hậu T19 ấp Vồ Dơi
  • Phía Tây giáp kinh 90, phân trường Trần Văn Thời và đê bao phía tây Vồ Dơi

Khu vực chính trong vườn quốc gia U Minh Hạ bao gồm:

  • Khu bảo tồn hệ sinh thái rừng trên đất than bùn
  • Khu phục hồi và sử dụng bền vững hệ sinh thái rừng ngập nước
  • Khu dịch vụ hành chính
  • Có hơn 25.000 ha vùng đệm thuộc các lâm ngư trường U Minh 1, U Minh 3, Trần Văn Thời, trại giam K1 Cái Tàu
  • Trung tâm nghiên cứu ứng dụng rừng ngập Minh Hải

Sự đa dạng sinh học

Rừng U Minh Hạ là một khu rừng có sự phong phú và đa dạng về sinh vật bao gồm:

Đa dạng sinh học của rừng u minh
Đa dạng sinh học của rừng u minh
  • Có hệ động thực vật đặc trưng vùng đất ngập nước trên lớp than bùn do xác thực vật tích tụ lâu năm tạo thành
  • Thực vật đặc hữu ở đây là các loài như tràm, móp, trảng năn, sậy
  • Động vật đặc trưng là: rái cá lông mũi, tê tê, nai, khỉ đuôi dài, lợn rừng, rùa, rắn, trăn, các loại cá nước ngọt, chim, côn trùng

Chức năng của Vườn quốc gia U Minh Hạ

Rừng U Minh Hạ có chức năng vô cùng quan trọng đối với nước ta và thế giới bao gồm:

  • Bảo tồn, tái tạo các giá trị về cảnh quan thiên nhiên
  • Bảo tồn, tái tạo các môi trường sinh thái và đa dạng sinh học
  • Bảo tồn, tái tạo các hệ sinh thái đất ngập nước đặc thù, rừng tràm trên đất than bùn
  • Bảo tồn và phát triển nguồn gen các loài động thực vật quý
  • Bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa, tinh thần, di tích lịch sử
  • Phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, tham quan và phát triển du lịch

Rừng U Minh Thượng

Vườn quốc gia U Minh Thượng hay rừng U Minh Thượng là một trong những vườn quốc gia có vai trò quan trọng của Việt Nam. Ngày 14 tháng 1 năm 2002, theo Quyết định số 11/2002/QĐ-TTG của Thủ tướng chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã nâng cấp khu bảo tồn thiên nhiên U Minh Thượng lên thành vườn quốc.

Rừng quốc gia u minh thượng
Rừng quốc gia u minh thượng

Diện tích và vị trí địa lý của rừng U Minh Thượng

Vườn quốc gia U Minh Thượng có diện tích rộng khoảng 80,53 km² thuộc địa phận của huyện An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận thuộc tỉnh Kiên Giang và bán đảo Cà Mau.

Tọa độ:

  • Từ 9°31 đến 9°39′ vĩ bắc
  • Từ 105°03′ đến 105°07′ kinh độ đông

Trước đây rừng U Minh Thượng là rừng úng phèn U Minh hình thành ở phía Tây bán đảo Cà Mau và tiếp giáp với dải rừng ngập mặn ven biển vịnh Thái Lan. Năm 1950 diện tích của rừng là 400 ha. Năm 1970 diện tích của rừng là 200 ha. Năm 1990 diện tích của rừng là 100 ha.

Hiện nay, đây đang là nơi được đầu tư, phục vụ cho việc nghiên cứu, bảo tồn các nguồn giống, gen sinh học quý hiếm. Đồng thời rừng U Minh Thượng cũng đã và đang thực hiện dự án phát triển du lịch sinh thái và truyền thống.

Sự đa dạng sinh học

Những sự đa dạng về sinh vật ở rừng U Minh Thượng như:

  • Không khí trong lành cùng với không gian khoáng đãng
  • Tha hồ nhìn ngắm chim muông, thú rừng, các loài động thực vật
  • Nhiều địa chỉ để các bạn tham quan như mảng chim, mảng dơi quạ, tràm nguyên sinh
  • Tham quan nhiều quần thể rái cá, heo rừng, kỳ đà và đặc biệt là khu giải trí câu cá Hồ Hoa Mai
  • Đây còn là nơi cư trú của một số loài hoang dã vùng rừng ngập như Sóc mun, Viverra, Viverra megaspila, Cầy vòi đốm (Paradoxurus hermaphroditus), Zibetha, Trút java (Manis javanica)

Chức năng của vườn quốc gia U Minh Thượng

Rừng U Minh Thượng có chức năng vô cùng quan trọng đối với Việt Nam bao gồm:

  • Bảo tồn mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng tràm úng phèn trên đất than bùn, một vùng ngập nước quan trọng của hạ lưu sông Cửu Long
  • Bảo tồn đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng ngập nước, đặc biệt 8 loài chim nước quan trọng và các loài động vật quý hiếm
  • Góp phần bảo tồn và tôn tạo di tích lịch sử cấp quốc gia về chiến khu cách mạng U Minh Thượng trong thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ
  • Góp phần cân bằng sinh thái, tăng độ che phủ của rừng, đảm bảo an ninh môi trường và sự phát triển bền vững của đồng bằng sông Cửu Long
  • Phát huy giá trị của hệ sinh thái rừng tràm phục vụ nghiên cứu khoa học và tham quan, du lịch sinh thái

Như vậy chúng tôi đã chia sẻ những kiến thức về rừng U Minh Hạ và rừng U Minh Thượng và những sự đa dạng sinh học. Hi vọng với những thông tin hữu ích ở bài viết trên sẽ giúp mọi người hiểu hơn về vườn quốc gia U Minh này.

Rừng tràm Trà Sư

Rừng tràm Trà Sư có sự đa dạng sinh học và nhiều điểm du lịch

Rừng tràm Trà Sư là một khu trong những khu rừng quan trọng đối với hệ sinh thái của nước ta. Nơi đây là nơi cư trú của nhiều loài sinh vật khác nhau và có nhiều loài động thực vật quý hiếm. Đây cũng là một trong những địa điểm du lịch đẹp thu hút được nhiều lượt khách tham quan.

Giới thiệu chung về rừng tràm Trà Sư

Rừng trà Trà Sư là một khu rừng ngập nước có vai trò rất quan trọng thuộc địa bàn của xã Văn Giáo, huyện Tịnh Biên, Tỉnh An Giang. Mọi người cần xuất phát từ thị trấn Nhà Bàng đi theo đường tỉnh lộ 948 đến cầu Bưng Tiên tại Km số 6 thì rẽ trái, sau đó đi khoảng 4 km trên con đường trải nhựa thì có thể đến được khu du lịch rừng tràm.

Rừng tràm Trà Sư
Rừng tràm Trà Sư

Đa dạng về loài động vật

Rừng tràm Trà Sư có diện tích rộng khoảng 850 ha. Rừng tràm Trà Sư có sự đa dạng về các loài động vật bao gồm:

  • Có khoảng 70 loài chim khác nhau thuộc 13 bộ và 31 họ, đặc biệt trong đó có 2 loài chim quý thuộc sách đỏ Việt Nam đó là điêng điểng (Anhinga melanogaster) và giang sen (Mycteria leucocephala)
  • Có khoảng 11 loài thú khác nhau thuộc 4 bộ và 6 họ, đặc biệt là có loài quý hiếm thuộc sách đỏ Việt Nam đó là loài dơi chó tai ngắn
  • Khoảng 25 loài bò sát và ếch nhái gồm 2 bộ và 10 họ, đặc biệt đây là nơi cư trú của loài rắn hổ mang và cạp nong
  • Có khoảng 10 loài cá xuất hiện quanh năm và 13 loài chỉ xuất hiện vào mùa lũ

Đa dạng về loài thực vật

Bên cạnh đó, rừng tràm Trà Sư cũng có sự đa dạng về các loài thực vật. Trong rừng có khoảng 140 loài thực vật thuộc 52 họ và 102 chi bao gồm:

  • Phần lớn là những cây Tràm lớn trên 10 tuổi và cao từ 5 đến 8 m
  • 22 loài cây gỗ
  • 25 loài cây bụi
  • 10 loài dây leo
  • 70 loài cỏ
  • 13 loài thủy sinh
  • 11 loài sinh cảnh
  • 78 loài thuốc
  • 22 loài cây cảnh

Rừng tràm Trà Sư được coi là một khu rừng có tầm quan trọng quốc tế trong công tác bảo tồn đất ngập nước tại đồng bằng sông Cửu Long. Khảo sát này được công bố do BirdLife International và Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật.

Đa dạng sinh học ở rừng tràm Trà Sư
Đa dạng sinh học ở rừng tràm Trà Sư

Và cả 2 tổ chức này đều đã đề xuất chính quyền địa phương xây dựng khu bảo vệ tại rừng tràm Trà Sư vào năm 1991. Đến ngày 27 tháng 5 năm 2003, chính quyền tỉnh An Giang đã ra quyết định phê duyệt thành lập khu bảo vệ cảnh quan rừng tràm Trà Sư. Đây là một trong những bước khởi đầu khá quan trọng để đáp ứng nhu cầu du lịch sinh thái và phục vụ công tác nghiên cứu bảo tồn môi trường.

Điểm du lịch của rừng tràm Trà Sư

Rừng trà Trà Sư vừa là một khu rừng ngậm nước có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn những loài động thực vật. Với vẻ đẹp hoang dã nơi đây đã trở thành một địa điểm du lịch thu hút được rất nhiều lượt khách tham quan, đặc biệt là vào mùa nước nổi tháng 8-10 âm lịch.

Chùa Hang

Địa điểm du lịch đầu tiên khi chúng ta đến tham quan khu rừng tràm Trà Sư đó chính là chùa Hang thuộc thành phố châu Đốc. Tại sao đây lại là nơi thu hút việc dừng chân đầu tiên của du khách.

Chùa Hang ở rừng tràm Trà Sư
Chùa Hang ở rừng tràm Trà Sư

Theo sự tích kể lại, ngày xưa có một sư bà từ Chợ Lớn về đây để xây am và tu hành. Sở dĩ đây nơi đây có tên là chùa Hang là ở cạnh đó có 1 cái hang có 2 con xà tinh thường xuyên quậy phá dân làng. Kể từ khi bà về đây xây am và thường ngày đọc kinh kệ đã khiến 2 con xà tinh trở nên lành tính. Đặc biệt là từ khi bà mất thì người dân ở đây cũng không thấy sự xuất hiện của 2 xà tinh. Từ đó, am bà thờ được mọi người dân tu sửa lại nhiều lần và có dáng dấp như hiện nay.

Vị trí của chùa được xây dựng trên núi Sam. Đứng trên chùa Hang, du khách có thể phóng tầm mắt của mình ra xa sẽ thấy cả thành phố Châu Đốc.

Những cánh đồng thốt nốt

Tiếp theo, du khách đi theo quốc lộ 91 hướng đi thị trấn Nhà Bàng đến ngã 3 rẽ trái. Cuối cùng bạn chỉ cần vượt qua những con dốc của núi Két là sẽ nhìn thấy những cánh đồng thốt nốt của đồng bào dân tộc người Chăm.

Cánh đồng thốt nốt ở rừng tràm Trà Sư
Cánh đồng thốt nốt ở rừng tràm Trà Sư

Du khách hoàn toàn có thể dừng nghỉ chân nơi đây để thưởng thức một cốc nước thốt nốt mát lạnh, ngọt lịm cùng hương thơm đặc trưng của núi rừng phương Nam.

Đi xuồng tham quan 1 vòng rừng tràm

Sau đó, mọi người sẽ xuất phát đến địa điểm du lịch chính là rừng tràm Trà Sư cách chùa Hang khoảng 20 km. Khách du lịch nên lưu ý, cần phải mua vé theo giá niêm yết sẵn phụ thuộc vào số lượng khách của mỗi đoàn. Khách du lịch sẽ có thể ngắm những rặng bèo tây và lướt qua những bãi sen khi ngồi trên thuyền để đi ra bãi xuồng.

Khách du lịch sẽ được ngồi trên chiếc xuồng ba lá để đi tham quan một vòng rừng tràm Trà Sư. Mỗi chiếc xuồng có thể trở khoảng 3-5 khách du lịch và một 1 nhân viên của khu du lịch.

Rừng tràm Trà Sư đẹp nhất vào những mùa nước nổi vì đây là thời điểm mặt nước phủ đặc bèo tây, dày như tấm thảm. Khách du lịch có cảm giác như đang lướt trên những “con đường màu xanh” phủ kín bởi bèo tây khi đi tham quan trên xuồn ba lá. Nếu du khách đến tham quan khu rừng vào mùa nước xuống thì có thể ngắm nhìn rất nhiều tổ chim, nhiều loài chim kêu ríu rít.

Điều đặc biệt khi du khách đến tham quan khu du lịch rừng tràm Trà Sư đó là toàn bộ hướng dẫn viên đều là người dân bản địa được đào tạo. Do đó, khách du lịch có thể hiểu hơn về địa lý và những cảnh đẹp nơi đây. Những người dân ở rừng Trà Sư cũng rất nhiệt tình, vui vẻ chỉ dẫn và kể những câu chuyện thú vị.

Thưởng thức những món ăn đặc sản

Sau khi đã dạo quanh một vòng quanh khu rừng tràm Trà Sư, du khách sẽ đi sâu vào bên trong rừng để thưởng thức những món ăn đặc sắc. Phía bên trong rừng tràm là những nhà hàng của người dân bản địa với những món ăn đặc sản đạm chất Nam Bộ.

Du khách tha hồ lựa chọn những món ăn đặc sản như:

  • Chuột đồng nướng lu
  • ươn nướng ghiền
  • Ếch chiên xù
  • Ếch nướng mọi
  • Cá lóc nướng chui
  • Gà chạy bộ nướng muối ớt
  • Lẩu cua đồng, lẩu mắm

Như vậy chúng tôi đã chia sẻ những kiến thức về rừng tràm Trà Sư và những địa danh du lịch thu vị nơi đây. Hi vọng với những kiến thức bổ ích ở bài viết trên sẽ giúp mọi người có thêm những kiến thức bổ ích về rừng tràm Trà Sơn.

earth hour 2019

Earth hour – Hưởng ứng chiến dịch Giờ Trái Đất 2019

Năm 2009, Việt Nam lần đầu tiên tham gia chiến dịch toàn cầu – Giờ Trái Đất với 6 thành phố bao gồm: Hà Nội, Hồ Chí Minh, Huế, Hội An, Nha Trang và Cần Thơ cùng với hàng ngàn doanh nghiệp, tổ chức, cơ quan và cá nhân.

earth hour 2019

Từ một chiến dịch nâng cao nhận thức về tác động của Biến đổi khí hậu, Giờ Trái Đất đã chuyển thành một phong trào, đạt được nhiều thành quả đáng ghi nhận được tạo ra do sức mạnh tập thể.

Lời kêu gọi giờ Trái đất năm 2019

Our connection to Earth and nature is undeniable: our planet’s gain is everyone’s gain.

Healthy nature makes our life better by providing us good food, clean air, and fresh water – but it is all under the threat of climate change. Our #Connect2Earth campaign aims to raise awareness on the important role of nature in our lives and the benefits nature provides, from good food, clean air, fresh water, to so much more.

This Earth Hour, join millions around the world to turn off the lights and speak up why nature matters. #Connect2Earth

Nguồn: https://www.earthhour.org/

Tây Nguyên quyết tâm bảo vệ các loài hoang dã còn lại của mình

Hàng trăm người dân thành phố Buôn Ma Thuột đã tới tham dự sự kiện Hưởng ứng Ngày Thế giới Bảo tồn các Loài Hoang dã (ngày 4 tháng 12 hàng năm) lần đầu tiên được tổ chức bởi Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk và WWF. Sự kiện là dịp những người con Tây Nguyên tề tựu để nhìn lại thực trạng tài nguyên các loài hoang dã quý hiếm của quê hương và cùng nhau quyết tâm gìn giữ những món quà quý báu mà thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất cao nguyên tự hào này.

Mảnh đất Tây Nguyên được biết đến với diện tích núi đồi đất đỏ bazan rộng lớn, những con sông đầu nguồn và những khu rừng có giá trị cao về đa dạng sinh học. Nơi đây cũng là nhà của nhiều loài động vật quý hiếm được pháp luật Việt Nam bảo vệ như hổ, beo lửa, báo, bò tót, bò rừng, voọc chà vá chân đen, công xanh, và đặc biệt là voi – loài gắn liền với văn hóa Tây Nguyên nói riêng và với văn hóa Việt Nam nói chung.

voi rừng tây nguyên

Từ ngàn đời xưa, người Tây Nguyên nương tựa vào thiên nhiên, sinh sống và phát triển yên bình trong lòng thiên nhiên cùng muôn loài hoang dã. Nhưng trong hơn bốn thập kỷ gần đây, bức tranh hài hoà này đang bị phá vỡ. Áp lực phát triển đè nặng lên thiên nhiên. Các cánh rừng bị thu hẹp, nhường đất cho phát triển nông lâm nghiệp và cơ sở hạ tầng. Các con sông, con suối bị ô nhiễm và quần thể các loài hoang dã bị suy giảm nghiêm trọng do mất sinh cảnh sống và bị săn bắt tận diệt để phục vụ nhu cầu ẩm thực xa xỉ, thuốc đông y và đồ trang sức. Từ hàng ngàn cá thể voi hoang dã, giờ Tây Nguyên chỉ còn khoảng 70 cá thể, sống co cụm trong Vườn Quốc gia Yok Don. Loài bò tót đẹp đẽ và dũng mãnh, từ hơn 4.000 giờ còn chưa tới 400 cá thể trên toàn quốc. Hổ đã biến mất khỏi núi rừng nơi đây và các loài mèo lớn khác đang bị ráo riết săn lùng.

Ông Y Sy H’Dơk, Chi cục trưởng Chi Cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk “Quần thể các loài hoang dã đã suy giảm đến mức báo động. Nhưng chúng ta vẫn còn có cơ hội để phục hồi và phát triển.  Rừng Tây Nguyên vẫn đủ giàu để các loài hoang dã tự phục hồi. Điều quan trọng là trả lại cho chúng môi trường sống an toàn và hành lang di chuyển đủ rộng theo tập tính của loài.  Chúng ta có quần thể voi hoang dã lớn nhất cả nước hiện đang sinh sống tại Vườn Quốc gia Yok Don, chúng là niềm hy vọng của bảo tồn voi Việt Nam. Nhưng chúng ta phải hành động ngay bây giờ và phải làm nhiều hơn nữa mới có thể đảo ngược tốc độ suy giảm quần thể loài.  Và tôi tin, với sự chung tay của người dân, của doanh nghiệp, sự quyết tâm của lãnh đạo các cấp, cùng sự nhiệt tình cống hiến của giới trẻ, nhất định chúng ta sẽ làm được.”

Niềm tin của Chi cục trưởng được tiếp lửa bởi thế hệ trẻ Tây Nguyên. Hơn 200 sinh viên từ trường Đại học Tây Nguyên cùng hàng trăm chiến sỹ Kiểm Lâm đến từ nhiều địa phương trong tỉnh, cùng các hiệp hội doanh nghiệp đã tới tham dự sự kiện. Đặc biệt là hoạ sỹ Trung Nghĩa và nhà thơ Nguyễn Thiên Ngân – hai người con sinh ra và lớn lên bằng nguồn nước và hạt gạo Tây Nguyên, trở về góp tiếng nói và truyền cảm hứng cho thế hệ của mình về tình yêu và niềm tự hào đối với thiên nhiên quê hương.

Chia sẻ về lý do mình tham gia chương trình, nhà thơ Thiên Ngân nói: “Tôi nghĩ, điều thiết thực nhất tôi có thể làm đó là truyền cảm hứng, khuyến khích mỗi bạn trẻ quê tôi tìm và nhận ra mối liên hệ cụ thể giữa bản thân mình và đàn voi rừng đang chết dần, hay cánh rừng đang bị thu hẹp từng ngày như điều chính tôi đã nhận ra. Để các bạn trẻ thấy mọi thứ trong cuộc sống này liên hệ với nhau một cách chặt chẽ, để bảo vệ rừng và tất cả những thứ liên quan như bảo vệ chính sinh cảnh, sinh kế và bản sắc của mình và những người mình thương yêu.”

Hoạ sỹ Trung Nghĩa, người từng đã tưởng rằng mình không thể làm gì để giúp các loài hoang dã đang biến mất dần, bắt đầu cầm bút vẽ từ năm 2011. Anh muốn lưu giữ lại những tuyệt tác của thiên nhiên để thức tỉnh người xem về sự suy thoái của môi trường thông qua cách vẽ tranh thật khác biệt, sử dụng nghệ thuật khói, lửa và chất cháy. Lửa đã giúp loài người tiến hóa, con người cũng đã dùng lửa để tàn phá thiên nhiên, và giờ đây khói và lửa được dùng để thức tỉnh con người hãy thay đổi cách đối xử với thiên nhiên vì sự tồn vong của chính mình. Để chuẩn bị cho ngày trở về hôm nay, Trung Nghĩa đã cùng WWF thực hiện triển lãm “Ký ức tuổi thơ” với năm bức tranh về các loài động vật quý hiếm đã hoặc đang trú ngụ tại các cánh rừng Tây Nguyên.

Ông Văn Ngọc Thịnh, Giám đốc Quốc gia của WWF-Việt Nam chia sẻ: “Sự có mặt của các lãnh đạo tỉnh và sự tham gia đông đảo của thế hệ trẻ và người dân ngày hôm nay thể hiện sự quyết tâm của người dân Tây Nguyên trong công cuộc bảo vệ thiên nhiên và các loài hoang dã. Chúng ta có quyền tin tưởng vào một tương lai tốt đẹp hơn khi con người sống hài hoà với thiên nhiên. Tôi hy vọng rằng cam kết ngày hôm nay sẽ được biến thành hành động cụ thể, thành phố Buôn Ma Thuột sẽ trở thành thành phố đầu tiên của Tây Nguyên không buôn bán các sản phẩm ngà voi, nhẫn lông đuôi voi và các loài động vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng. WWF sẽ luôn đồng hành cùng chính quyền và người dân để thực hiện mục tiêu này.”

Sự kiện được tổ chức tại Trung tâm Văn hoá tỉnh Đắk Lắk, với sự tham gia của lãnh đạo UBND thành phố, Cục Kiểm lâm, các sở ban ngành liên quan, trường Đại học Tây Nguyên, các hiệp hội doanh nghiệp, đại diện báo chí và người dân.

Nguồn: http://vietnam.panda.org/?uNewsID=339510

Sao la “Kỳ lân châu Á” được tìm thấy ở đâu?

Sao la còn được gọi là “Kỳ lân châu Á” có tên khoa học là Pseudoryx nghetinhensis. Đây là loài thú quý hiếm nhất thế giới được phát hiện ở núi rừng Trường Sơn Việt Nam và Lào vào năm 1992. Sao la là loài có nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên rất cao, được xếp hạng mức Nguy cấp trong sách đỏ của Liên minh bảo tồn thế giới IUCN và sách đỏ Việt Nam.

Sao la

Lịch sử khám phá ra sao la

Được phát hiện lần đầu tiên trên thế giới ở Việt Nam vào tháng 05/1992 trong chuyến khảo cổ do Bộ Lâm nghiệp Việt Nam và Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên Nhiên (WWF) thực hiện ở Vườn quốc gia Vũ Quang. Các nhà khoa học sau đó tiếp tục tìm kiếm và phát hiện thêm được 20 con sao la nữa vào năm 1992.

Việc khám phá ra sao la đã gây chấn động toàn thế giới, bởi trước đó chỉ có 5 loài thú lớn được phát hiện trong suốt 100 năm trước đó. Sau này chúng còn được tìm thấy ở các nơi khác thuộc phạm vi rừng Trường Sơn ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Huế, Quảng Nam và nhiều tỉnh ở Lào.

Tuy nhiên, đến năm 1996 mới bắt và chụp ảnh được một con sao la còn sống ở Lào. Sau vài tuần nó đã chết. Tháng 10/1998, những nhà khoa học lại chụp được ảnh sao la trong tự nhiên ở Vườn quốc gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An. Đầu tháng 08/2010, người dân tỉnh Borikhamxay, Lào bắt được một con sao la đực, chụp ảnh khi còn sống. Nhưng sau đó nó đã chết trước khi chuyên gia Sở Nông lâm tỉnh đến để tìm hiểu.

Ngày 07/09/2013, sau 15 năm biệt tăm ở Việt Nam kể từ năm 1998, hình ảnh sao la trong tự nhiên được ghi nhận ở Quảng Nam, qua máy ảnh của  WWF và Chi cục Kiểm lâm tỉnh.

sao la

Tên khoa học

Phát hiện năm 1992, đến năm 1993 mô tả khoa học đầu tiên về sao la được xuất bản. Ban đầu, nó được gọi là dê sừng dài, tên tiến anh là Vu Quang ox (bò Vũ Quang). Ở Nghệ An gọi là sao la.

Sau đó, các nhà khoa học đã đề nghị một tên giống mới, chi mới. Pseudoryx, do sự tương tự với các loài linh dương (oryx), cùng với nghetinhensis là nơi khám phá sao la (tỉnh Nghệ Tĩnh trước đây).

Theo kết quả nghiên cứu ADN năm 1999, sao la thật sực thuộc về Phân họ Trâu bò (Bovinae). Họ hàng gần của nó là chi Bò (Bos) và bò rừng Bison.

Đặc điểm sao la

  • Dài từ 1,3 – 1,5m, cao 90cm, trọng lượng nặng khoảng 100kg.
  • Da có màu nâu sẫm, trên mỗi móng của sao la đều có một đốm trắng.
  • Sừng dài có thể đến 51cm, mảnh dẻ và hướng thẳng về phía sau.

sao la

Nơi sống và sinh thái

Sao la sống ở các khu rừng rậm gần suối ở độ cao 200 – 600m trên mực nước biển dọc dãy Trường Sơn. Mùa đông, chúng di cư xuống vùng đất thấp hơn tránh rét. Thời gian sinh đẻ của sao la khoảng tháng 5 – đầu tháng 6.

Đây là loài thú còn lại từ thời cổ đại. Thức ăn chủ yếu là cỏ, lá cây rừng.

Sao la có đặc tính lẩn trốn con người. Do đó, hiện nay các nhà khoa học chưa thể đánh giá được số lượng chính xác. Theo dự đoán của các nhà khoa học, mật độ của sao la trong Vườn quốc gia Vũ Quang không quá 100 con. Tại Lào thì mật độ sao la cũng chưa rõ nhưng phân bố không liên tục.

Tháng 04/2011, Khu Bảo tồn Thiên nhiên Sao la (Saola Nature Reserve) rộng 160km được thành lập ở Quảng Nam. Mở rộng hành lang sinh thái nối liền Việt Nam và Vườn Quốc gia Xe Sap của Lào.

Hiện nay, ước tính có khoảng 50 – 60 con sao la trong khu bảo tồn ở Việt Nam. Tổng số trên toàn cầu không quá vài trăm con.

Hình ảnh sao la

sao la

sao la

Nguồn tham khảo: https://vi.wikipedia.org/wiki/Sao_la

Project Assistant

Project Assistant vacancy at SUSFORM-NOW Project

SUSFORM-NOW is now seeking applications from Vietnamese nationals for the following posts:

1. Project Assistant

The assignment is based at the project office in Dien Bien Phu City for the initial contract period of one year with the possibility of extension. The assignment involves frequent travel to the field (mostly day trips by the project vehicles) and work in the villages of ethnic minorities including Thai, Hmong, and others.

Interested applicants are requested to send (1) cover letter and (2) CV (with the provided format) to the following address:

Name: Du an SUSFORM-NOW

Address: So NN&PTNT, So 672, Tho 1, Phuong Tan Thanh, TP-Dien Bien Phu, Tinh Dien Bien

Phone: 0230-3832856

Email: susform.now@gmail.com

Note that the CV format shall be fully filled otherwise it might not be considered as a part of the complete application package. Please clearly indicate which post you are applying for as we have several vacant posts announced at the same time.

Deadline for application is 1 May, 2013. The shortlisted candidates will be interviewed in early-mid May.

For more detail on the project, please see the following

website: http://www.jica.go.jp/project/english/vietnam/004/index.html

Important notice: If you apply through post, your application package should reach our office by the above deadline.

  • Terms of Reference
  • CV Template

Lâm sản ngoài gỗ – Cẩm nang ngành lâm nghiệp

Khái niệm về lâm sản ngoài gỗ (LSNG)

Việt Nam nằm ở Đông-Nam lục địa Châu Á, có đường biên giới trên đất liền khoảng 3.700 km dọc theo các triền núi và châu thổ Mê Kông, có bờ biển dài 3.260 km. Phần lãnh thổ đất liền của Việt Nam trải dài từ 80°30’đến 230°24’ vĩ Bắc, mang tính chất của một bán đảo với điểm cực Bắc là chòm Lũng Cú thuộc cao nguyên Đồng Văn, điểm cực Nam là xóm Rạch Tàu thuộc tỉnh Cà Mau. Các đảo của Việt Nam trải dài từ Trường Sa đến Vịnh Bắc Bộ, với những hệ sinh thái dặc thù như Phú Quốc, Côn Đảo, Hoàng Sa, Hạ Long, Bái Tử Long, v.v…Bắc Việt Nam, từ Đèo Hải Vân trở ra Bắc, nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng rõ rệt của gió mùa Đông Nam Á: gió mùa đông bắc mang theo không khí lạnh từng đợt từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau và gió mùa đông nam đưa tới những đợt không khí nóng ẩm từ tháng 4 đến tháng 10. Từ Hải Vân trở vào Nam nhiệt độ quanh năm nóng với hai mùa nắng mưa, đặc trưng của khí hậu nhiệt đới. Tuy nhiên, ở cả hai miền đều có những dãy núi cao, hình thành những hệ sinh thái khác biệt vùng thấp cùng vĩ độ. Những đặc điểm khí hậu và địa hình đó đã
tạo nên một Việt Nam giầu tính đa dạng sinh vật. Hiện nay các nhà thực vật học đã thống kê được trên 12.000 loài cây, trong đó 7.000 loài đã được mô tả, 5.000 loài còn chưa được biết công dụng, phần lớn là các loài cây dưới tán rừng không cho gỗ. Trong số những loài đã biết có 113 loài cây cho chất thơm; 800 loài cho tannin; 93 loài chứa chất làm thuốc nhuộm; 458 loài có tinh dầu; 473 loài chứa dầu và 1863 loài cây dược liệu.

Việt Nam có khoảng 10% tổng số những loài thực vật được biết trên Thế giới. Có những loài động thực vật từ trước tới nay chưa được biết đến mới được phát hiện ở Trường Sơn. Chỉ trong các năm 1992-1998 đã phát hiện thêm nhiều loài thú mới ở Bắc Trường Sơn: Mang lớn, Sao la, Mang Trường sơn, Bò sừng xoắn Tây nguyên. Mới phát hiện thêm 50 loài cây thuốc quí, như Amomum longiligulara, Rauwolfia vomitoria, Tetrapanax papyrifera… Các nhà thực vật học đã xác định khoảng 40-50% thực vật rừng Việt Nam có nguồn gốc Ấn Độ, Malai, Indonesia, Trung hoa,… di cư đến. Sự phong phú về loài của thực vật rừng Việt Nam rất cao: nhiều họ có trên 100 loài, như Phong lan có 901 loài; Thầu dầu có 333 loài; Cà phê có 286 loài; Cánh bướm có 290 loài… Nhiều họ thực vật ôn đới cũng được thấy ở Việt Nam như Hồ Đào, Du, Liễu, Dẻ… Có tới 8 họ cây Lá kim với 18 chi, 39 loài, một số loài đặc hữu, một số loài hiếm như: Thông lá dẹt (Ducampopinus krempfi), Thông 5 lá (Pinus dalatensis), Thủy tùng (Glyptostrobus pensilis), Thông đỏ (Taxus baccata).

1.1 Định nghĩa Lâm sản ngoài gỗ

Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ở Việt nam lâm sản được phân chia thành hai
loại:

  • Lâm sản chính (principale richesse forestière) là những sản phẩm gỗ;
  • Sản phẩm phụ của rừng hay lâm sản phụ (produit secondaire de la forêt), bao gồm
    động vật và thực vật cho những sản phẩm ngoài gỗ.

Từ 1961, lâm sản phụ được coi trọng và được mang tên đặc sản rừng. “Đặc sản rừng bao gồm cả thực vật và động vật rừng là nguồn tài nguyên giầu có của đất nước. Nó có vị trí quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, trong đời sống nhân dân, quốc phòng và xuất khẩu…” ( Bộ Lâm nghiệp – Kế hoạch phát triển Đặc sản rừng, 1981-1990). Theo định nghĩa đó Đặc sản rừng là một bộ phận của tài nguyên rừng nhưng chỉ tính đến những sản phẩm có công dụng hoặc giá trị đặc biệt và ngoài các loài thực vật dưới tán rừng còn bao gồm các loài cây cho gỗ đặc hữu hoặc được coi là đặc hữu của Việt Nam, như Pơ mu, Hoàng đàn, Kim giao… , như vậy thuật ngữ đặc sản cũng mang ý nghĩa kinh tế, vì không tính đến những sản phẩm không có hoặc chưa biết giá trị. Vì thế, danh mục những đặc sản rừng trong từng thời điểm cũng tập trung sự chú ý vào một số sản phẩm nhất định.

Ngày nay, trong Lâm nghiệp thuật ngữ lâm sản ngoài gỗ được dùng phổ biến, chính thức thay cho thuật ngữ lâm sản phụ (minor forest product/ secondary forest product). Định nghĩa của thuật ngữ này được thông qua trong hội nghị tư vấn lâm nghiệp Châu Á-Thái Bình Dương tại Băng Cốc, 5-8-1991: “Lâm sản ngoài gỗ (Non-wood forest product) bao gồm những sản phẩm tái tạo được ngoài gỗ, củi và than gỗ. Lâm sản ngoài gỗ được lấy từ rừng, đất rừng hoặc từ những cây thân gỗ”. Do đó, không được coi là LSNG những sản phẩm như cát, đá, nước, dịch vụ du lich sinh thái.

Theo định nghĩa này củi, than gỗ, cành ngọn, gốc cây không được coi là LSNG, không thỏa đáng đối với việc khai thác tận dụng phế liệu gỗ. Những dịch vụ trong rừng như săn bắn, giải trí, dưỡng bệnh trong rừng, du lịch sinh thái, v.v…là một phạm trù khác, không được xếp vào LSNG, nhưng trên quan điểm kinh tế cũng có nơi du lịch sinh thái cũng được coi như sản phẩm của rừng.

Hội nghị lâm nghiệp do Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc triệu tập tháng 6 năm 1999 đã đưa ra và thông qua một khái niệm và định nghĩa khác về LSNG “Lâm sản ngoài gỗ (Non timber forest product) bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ, được khai thác từ rừng, đất có cây rừng (wooded lands) và cây ở ngoài rừng”. Thuật ngữ này phải dịch sang Tiếng Việt là “Lâm sản ngoài gỗ cây”, nhưng để đơn giản vẫn dùng thuật ngữ LSNG. Với định nghĩa này, LSNG bao gồm cả động vật, gỗ nhỏ và củi và rộng hơn so với định nghĩa trước. Trong tài liệu sách báo nước ngoài, hiện tại cả hai thuật ngữ NWFP và NTFP vẫn được dùng. Song có tác giả, để hạn chế đối tượng nghiên cứu, đánh giá giá trị kinh tế của LSNG, như Jenne H. De Beer thêm vào định nghĩa trên một mệnh đề, thành một định nghĩa khác như sau: “LSNG bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật không phải gỗ được người ta khai thác từ rừng để sử dụng”. Có thể hiểu được rằng khái niệm hàm ý chỉ quan tâm đến sản phẩm được khai thác để dùng. Thuật ngữ “đặc sản rừng” còn hẹp hơn, và được hiểu là những cây, con LSNG có công dụng đặc biệt và đặc hữu của Việt Nam. Vì khái niệm
và định nghĩa LSNG có sự khác nhau như thế nên việc vận dụng vào thực tế cũng có sự khác
nhau.

1.2 Phân nhóm LSNG theo công dụng

Trên thế giới cũng đã có nhiều khung phân loại LSNG được đề xuất. Có khung phân loại dựa vào dạng sống của cây tạo ra các sản phẩm như nhóm cây gỗ, cây bụi, cây thảo, dây leo gỗ, dây leo thảo…. Có khung phân loại dựa vào công dụng và nguồn gốc của các LSNG, như khung phân loại được thông qua trong hội nghị tháng 11 năm 1991 tại Băng Cốc . Trong khung này, LSNG được chia làm 6 nhóm :

  • Các sản phẩm có sợi: Tre nứa; song mây; lá, thân có sợi và các loại cỏ.
  • Sản phẩm làm thực phẩm.
    • Các sản phẩm nguồn gốc thực vật: thân, chồi, rễ , củ, lá, hoa, quả, quả hạch,
      gia vị, hạt có dầu và nấm.
    • Các sản phẩm nguồn gốc động vật: mật ong, thịt động vật rừng, cá, trai ốc, tổ
      chim ăn được, trứng và côn trùng.
  • Thuốc và mỹ phẩm có nguồn gốc thực vật.
  • Các sản phẩm chiết xuất: gôm, nhựa, nhựa dầu, nhựa mủ, tanin và thuốc nhuộm, dầu
    béo và tinh dầu.
  • Động vật và các sản phẩm từ động vật không làm thực phẩm: tơ tằm, động vật sống,
    chim, côn trùng, lông mao, lông vũ, da, sừng, ngà, xương và nhựa cánh kiến đỏ.
  • Các sản phẩm khác: như lá Bidi (lá thị rừng dùng gói thuốc lá ở Ấn Độ)

Để hoà nhập với các nước láng giềng chúng tôi đề nghị sử dụng khung phân loại các LSNG được thống nhất trong Hội nghị các nước vùng Châu Á Thái Bình Dương, tháng 11 năm 1991 tại Băng Cốc, Thái lan và có sửa đổi để phù hợp với thực tế Việt Nam.

Trước hết chúng tôi đã bổ sung thêm 3 nhóm phụ : (1) Các cây có chất độc vào nhóm 3 (cây thuốc và mỹ phẩm); (2) Các cây cảnh; (3) Các lá dùng để gói, bọc vào nhóm 6 (các sản phẩm khác).

1.3 Khung phân loại các LSNG được đề xuất

Để phù hợp với điều kiện thực tế, chúng tôi đề xuất khung phân loại LSNG của Việt Nam như sau :

  • Sản phẩm có sợi, bao gồm: tre nứa, mây song, các loại lá, thân, vỏ có sợi và cỏ.
  • Sản phẩm dùng làm thực phẩm:
    • Nguồn gốc từ thực vật: thân, chồi, củ, rễ, lá, hoa, quả, gia vị, hạt có dầu, nấm
      ăn.
    • Nguồn gốc từ động vật rừng: mật ong, thịt thú rừng, cá trai ốc, tổ chim ăn
      được, trứng và các loại côn trùng.
  • Các sản phẩm thuốc và mỹ phẩm:
    • Thuốc có nguồn gốc thực vật
    • Cây có độc tính
    • Cây làm mỹ phẩm
  • Các sản phẩm chiết xuất:
    • Tinh dầu
    • Dầu béo
    • Nhựa và nhựa dầu
    • Dầu trong chai cục
    • Gôm
    • Ta-nanh và thuốc nhuộm
  • Động vật và các sản phẩm động vật không làm thực phẩm và làm thuốc.
    • Động vật sống, chim và côn trùng sống: da, sừng, xương, lông vũ…
  • Các sản phẩm khác:
    • Cây cảnh,
    • Lá để gói thức ăn và hàng hóa …

Tuy nhiên, đối với từng loài cụ thể việc phân loại không cố định mà biến đổi theo địa phương và thời gian vì công dụng của lâm sản có sự thay đổi, ví dụ: Quế có thể xếp vào dược liệu nhưng cũng được xếp vào gia vị… cũng như nhiều sản phẩm có thể được phân vào các nhóm khác nhau tuỳ từng nơi, từng lúc…

1.4 Tiêu chí để phân biệt LSNG và cây nông nghiêp

Ngày càng có nhiều loài cây rừng, trong đó đa số là LSNG, được trồng trên đất nông nghiệp. Trong nhiều trường hợp cây cho LSNG đã được coi là cây nông nghiệp như cây Điều, Sơn, Sở… Ngược lại, có nhiều loài cây được trồng ở vùng nông nghiệp nhưng vẫn được coi như LSNG như nhiều loài tre, trúc, mây. Vì vậy, việc đưa ra “Tiêu chí” để phân định cây thuộc LSNG là cần thiết:

  • Cây có nguồn gốc từ rừng và hiện còn được trồng trên đất Lâm nghiệp
  • Cây thuộc sự quản lý của Lâm nghiệp (do Nhà nước quy định).

Những tiêu chí này chỉ mang tính quy ước để thuận tiện cho quản lý, không có ý nghĩa khoa học kĩ thuật.

Tải file đầy đủ: Lâm sản ngoài gỗ – cẩm nang ngành lâm nghiệp.pdf

Một số ứng dụng:

reddesk vietnam

Viet Nam REDD network foundation

Nguyễn Bích Hằng – Communications Officer, FSSP

Hanoi – On 22 July 2009, the Forest Sector Support Partnership (FSSP) in collaboration with Department of Forestry (MARD) and its partners held a meeting for the establishment of REDD (Reducing Emissions from Deforestation and Forest Degradation) network in Viet Nam.

The Department of Forestry (DoF) is the focal point within the Government of Viet Nam to oversee the development and implementation of a national REDD programme. The DoF is currently seeking to develop a National REDD programme to engage in international forest carbon markets and provide inputs to international talks regarding a future REDD international trading scheme at the United Nations Framework Convention on Climate Change (UNFCCC) COP-15 in Copenhagen in December 2009.

The REDD Network is a multi-partner team to support the development of REDD readiness in the context of efforts by the Government of Vietnam to address Climate Change mitigation and adaptation, as reflected in the National Target Programme on Climate Change Response for the period 2009-2015 (NTP/CCR).

The strategic objectives of the NTP/CCR are to assess climate change impacts on sectors and regions; and to take opportunities to develop towards a low-carbon economy, and to join the international community’s efforts in mitigating climate change and protecting the climatic system.  In the context of these objectives of the NTP/CCR, the objective of the REDD Network is to coordinate the activities of Vietnamese agencies and international development partners (including NGOs) in establishing the necessary institutions, policies and processes to allow Viet Nam to participate actively and effectively in programmes of the UNFCCC to reduce deforestation and forest degradation, and to promote conservation, sustainable forest management, and enhancement of forest carbon stocks (“REDD+”).

At the meeting, it was agreed that the REDD Network will be chaired by the DoF and co-chair by international development partner on a rotation basis with Norwegian Embassy will take the role for the first cycle. Membership of the REDD Network is open-ended, consisting of representatives of the DoF, the Department of International Cooperation (ICD), Coordination Office of the Forest Sector Support Partnership (FSSP), National Office for the implementation of the UNCCD, other relevant departments and organizations of the Government of Viet Nam, and representatives of relevant bilateral and multilateral development partners and broader stakeholders if possible. Proposed Terms of Refrence of the Network was endorsed, and some follow-up action were agreed to be done soon for preparation of UN-REDD Inception Workshop on 27 August 2009.

Trust Fund for Forests

TFF – Trust Fund for Forests

The Trust Fund for Forests (TFF) was established through an Official letter 850/CP-NN dated 23rd June 2004. At the same time four bilateral donors (Finland, the Netherlands, Sweden and Switzerland) signed a Memorandum of Understanding (MOU) with the Ministry of Agriculture and Rural Development (MARD), which committed them to pool their ODA contributions in support of Vietnam’s forest sector during an initial three year transition phase of the TFF.

What is the TFF?

The Trust Fund for Forests (TFF) is a financing mechanism for pooling donor contributions and ensuring these are used effectively to address sector priorities within agreed policy frameworks, such as the National Forest Development Strategy.

What is the mission statement of the TFF?

Vietnam’s Trust Fund for Forests will provide a grant facility to support pro-poor and sustainable approaches to forest management and a transition towards a comprehensive sector wide approach for development and cooperation in the forest sector.

What are the TFF’s goals and objectives?

The overall goal of the fund is consistent with that of the existing National Forest Development Strategy – “The sustainable management of forests and the conservation of biodiversity to achieve: a) protection of the environment, b) improved livelihoods of people in forest dependent areas, and c) enhanced contribution of forestry to the national economy.”

The TFF has four specific objectives:

  • Aligning ODA support more closely with the agreed priorities identified in the FSSP framework
  • Improving poverty targeting of ODA support to the forest sector, consistent with the CPRGS
  • Harmonizing aid delivery from ODA to the forest sector and reducing transaction costs on GoV
  • Supporting a transition towards a sector wide approach to ODA support in the forest sector

The TFF’s organizational structure

The organizational structure of the TFF consists of a Board of Directors (BoD) and a TFF Management Unit (TFF MU). The BoD is chaired by MARD’s Vice Minister responsible for the forest sector; members include leaders of MARD’s International Cooperation Department, Planning Department, Finance Department, representatives from other relevant departments of MARD together with a representative from TFF donors. The BoD performs an executive function and is responsible for decisions on operations, orientation and annual income and expenditure of the TFF.

The TFF Management Unit is responsible for managing and operating the TFF in accordance with the directions approved by the BoD. During the initial transition phase, the Forest Sector Support Partnership Coordination Office (FSSP CO) acts as the TFF MU. Beyond this, during a full implementation phase, it is intended that the TFF will be fully institutionalized within MARD.

Address: The Trust Fund for Forests (TFF)

Ministry of Agriculture and Rural Development

3rd floor, A8 Building, 10 Nguyen Cong Hoan, Ba Dinh, Hanoi

Contact: Nguyen Chien Cuong (Mr.): Tel: 04 7629412, ext. 108

TFF financing

The Governments of Finland, Netherlands, Sweden and Switzerland contribute non-refundable ODA funds to the TFF. Germanyprovides support through provision of technical assistance for development and operation of the TFF.

Funds provided by the four donors are un-earmarked allowing them to be used to support programs, projects and non-project activities to implement agreed priorities of the FDS. As of 31st December 2007 in total approximately Euro 13.5 million in un-earmarked commitments have been made by the donors for the transition phase. In addition Finland provides earmarked funds totalling Euro 4.2 million, which co-finance the Forest Sector Development Project.

Support from TFF

The TFF provides support in the form grants either as a sole donor or co-financier to programs, projects and non-project activities. By December 2007, 22 projects and activities had been endorsed for support from the TFF with a total value of Euro 29 million.

The TFF is able to support national organizations. During implementation of programs or projects, international NGOs and international organizations that are legally operating in Vietnam can participate as technical service providers to a national implementing agency.

The TFF is able to consider requests for funding on the basis of priorities identified by MARD and agreed by the BOD based on the implementation status of the Vietnam Forest Development Strategy (2006-2020) and the sectoral plans. In general one or more organisations can be pre-selected by MARD/TFF to prepare proposals to address such priorities.

Forest Sector Support Partnership

Introduction Forest Sector Support Partnership

Since 1999, the Forestry Partnership and the Government of Viet Nam have experienced 3 development phases: (i) Partnership for supporting 5 Million Hectares Reforestation Program (5MHRP), 1999-2001; (ii) Forest Sector Support Program and Partnership (FSSP&P), 2001-2006; and (iii) Forest Sector Support Partnership (FSSP or also called Forestry Partnership) from late 2006.

FSSP is aimed to have “An effective Forestry Partnership among government, private sector, non-governmental and international stakeholders contributes to implementation of the Viet Nam Forestry Development Strategy (2006 – 2020), by promoting information sharing, increasing policy dialogue and collaboration on important forest sector issues, and maximizing the effectiveness of the activities of the Partnership members aimed to support the forestry sector of Viet Nam.

In order to meet the objectives, FSSP has developed and put in place its institutional structure (Partnership forum, Partnership Steering Committee (PSC), Technical/ Executive Committee (TEC), Regional Forestry Networks (RFNs), FSSP Coordination Office (FSSPCO)), developed and utilized a range of instruments (annual review meetings, thematic workshop, Regional Forestry Network meeting, investment forum, thematic newsletters, FSSP website, FOMIS, thematic articles and publications on key issues in the Strategy or sectoral ones in reality, policy evaluation and economic – technical evaluation done by international and domestic experts, and participation in regional and international fora and initiatives).

As the result, Forest Sector Support Partnership has made substantial contributions recently with sectoral achievements reflecting in following aspects:

PSSP – An effective forum for information sharing and policy dialogue

FSSP has created plenty of fora, where Government of Viet Nam and international and domestic partners could exchange information on scientific technology, management, institutions and policies relating to forestry at national, regional and global scale. Through information sharing and policy dialogue fora, FSSP has definitely made remarkable contributions on important issues of the forest sector of Viet Nam, such as in development of Forest Protection and Development Law 2004, development and implementation of National Forestry Strategy 2001 – 2010, and Viet Nam Forestry Development Strategy 2006 – 2020, and other legal documents of the sector.

FSSP – Strengthening resource mobilization, coordination and cooperation in key fields of the sector

FSSP has played an important role in mobilizing resources for the sector and strengthening coordination and cooperation among partners, resulting in substantial contributions in improving resource utilization efficiency (including efficiency), it especially attracted concerns and resources of stakeholders, contributing to resolution of key issues in implementation of the sectoral strategy, e.g. supporting the steering committees of 5 key VFDS programs.

FSSP – Respond to newly emerging issues

Recently, FSSP has worked actively and flexibly to meet new requirements, especially in Forest Law Enforcement, Governance and Trade (FLEGT) and Reducing Emissions from Deforestation and Forest Degradation (REDD). In addition, FSSP CO has been playing Secretariat role for REDD National Working Group and Network as well as Vietnam’s stakeholders in accessing support from regional and international initiatives, e.g. Asia Pacific Forestry Commission (APFC), National Forestry Programme (NFP), Asia Pacific Network for Sustainable Forest Management and Rehabilitation (APFNet).

The forest sector is under institutional restructuring process aimed at strengthening the sectoral governance and improving the effectiveness and comprehensiveness in forestry – based state administration. With the establishment of Directorate of Forestry (VNDoF) on the basis of reorganizing two forestry agencies, i.e. Department of Forestry and Forest Protection Department, the institutional and organizational structure of the sector will be changed accordingly and appropriately. Along with the mandate of maximizing significantly support for the sector, FSSP needs to change itself in terms of functions, operations and organizational structure to better support the forest sector in the coming time.

Beside that Viet Nam is going to become middle – income country at low level and facing global challenges on climate change, energy security, food security and biodiversity conservation, the Ministry of Agriculture and Rural Development (MARD) and Partners agreed that FSSP will continue to play important roles contributing to the development and implementation of Viet Nam Forestry Development Strategy 2006-2020 especially in 2011-2015 period.

FSSP’s development orientation in 2011-2015 is to strengthen its contributions to the forest sector in 3 dimensions:

  • Firstly, FSSP’s policy dialogue will be improved with higher strategic level by focusing its priority on strategic issues of the sector, reviewing current policies and orientating development of appropriate policies.
  • Secondly, FSSP will expand its membership to private sector, profession associations, local NGOs so as to be better listening from and making full use of various experiences, contributions and proposals of such agencies towards VFDS implementation at national, regional and local levels.
  • Thirdly, FSSP will further improve the Monitoring and Evaluation (M&E) systems for (i) VFDS implementation; (ii) process and results of implementing conclusions, proposals and recommendations (from workshops, fora… under FSSP) for the forest sector in VFDS implementation; and (iii) FSSP activities.

Nội dung ngoài Lâm Nghiệp: