Phát triển vùng đệm là vấn đề đang được nhiều người quan tâm. Do hiện nay hệ động, thực vật tại nhiều khu bảo tồn bị suy thoái. Bởi sức ép của người dân sinh sống ở phía ngoài các khu bảo tồn. Trong bài viết này chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn. Vai trò của việc phát triển vùng đệm đối với kinh tế xã hội.

Vùng đệm là gì?

Vùng đệm là thuật ngữ tương đối mới, dù nguyên lý của nó đã được sử dụng trong thời gian dài. Việc quản lý vùng đệm là lĩnh vực tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau. Do đó rất khó khăn để đưa ra 1 định nghĩa chung cho vùng đệm.

Ở nước ta, trước năm 1993 vùng đệm được quy định ở bên trong và quanh các khu bảo tồn được bảo vệ nghiêm ngặt. Khái niệm này chưa đề cập tới việc xây dựng, quản lý cũng như tổ chức phát triển vùng đệm như thế nào.

phát triển vùng đệm

Do đó, sau năm 1993, cụ thể theo quy định tại Khoản 25, điều 2 luật Lâm Nghiệp 2017 (hiệu lực có kể từ ngày 1/1/2019) thì vùng đệm được định nghĩa và quy định như sau:

Vùng đệm là vùng rừng, vùng đất hoặc vùng đất có mặt nước nằm sát ranh giới với các khu vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên, có tác động ngăn chặn hoặc giảm nhẹ sự xâm phạm khu rừng đặc dụng”.

Vai trò của việc phát triển vùng đệm

Việc phát triển vùng đệm sẽ giúp phát triển kinh tế, ổn định quốc phòng an ninh, bảo vệ môi trường cụ thể như sau:

Phát triển kinh tế

  • Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất của vùng đệm thời kỳ 2014-2020 tăng 8%. Và thời kỳ 2021- 2030 tăng 10,1%. Trong đó: Giá trị sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp giai đoạn 2015-2020 tăng trung bình 5%; Và thời kỳ 2021- 2030 tăng trung bình 5,5%. Giá trị sản xuất Công nghiệp – Xây dựng giai đoạn 2015-2020 tăng 12%; Giai đoạn 2021- 2030 tăng trung bình 12,5%. Giá trị dịch vụ giai đoạn 2015-2020 tăng trung bình 13,5%. Dự kiến giai đoạn 2021-2030 tăng trung bình 14%.
  • Phát triển vùng đệm theo hướng chuyển dịch giá trị cơ cấu sản xuất theo hướng tăng ngành phi nông nghiệp. Đến năm 2020, tỷ trọng nông – lâm thuỷ – sản giảm xuống còn 45%; dịch vụ tăng lên khoảng 36% và công nghiệp – xây dựng tăng khoảng 18%, cơ cấu của các ngành đến năm 2030 tăng tương ứng là 32%, 45% và 22,5%.
  • Thu nhập BQ/người theo giá trị hiện hành tới năm 2020 tăng 25 triệu đồng và tới năm 2030 tăng lên khoảng 110 triệu đồng.

Về phát triển xã hội – quốc phòng an ninh

  • Tỷ lệ dân số phát triển tự nhiên đạt khoảng 1,1% vào năm 2020, còn 1% vào năm 2030.
  • Giải quyết việc làm giai đoạn 2015 – 2020 rơi vào 4.000 người; Thời kỳ 2021-2030 là khoảng 4.200 người.
  • Giảm tỷ lệ hộ nghèo trung bình giai đoạn 2015-2020 là còn 2,1%; Và thời kỳ 2021- 2030 chỉ còn 2%. Tới năm 2020 tỷ lệ hộ nghèo còn khoảng 25% và năm 2030 chỉ còn 13-15%.
  • Phấn đấu đến 2020 có 100% các xã trong cả nước hoàn thành phổ cập trung học đúng độ tuổi; Trường trung học đạt chuẩn quốc gia cấp độ 1 đạt khoảng 90% trở lên. Trong đó 50% trường đạt chuẩn cấp độ 2; Có khoảng 70% trường trung học cơ sở đạt chuẩn quốc gia; 100% xã đạt chuẩn phổ cập bậc trung học cơ sở. Tới năm 2030 có 100% trường trung học đạt chuẩn cấp độ 1 và chuẩn cấp độ 2 đạt khoảng 80%.

Xây dựng cơ sở vật chất và cán bộ quản lý

  • Xây dựng đội ngũ cán bộ nhân viên có đủ trình độ, năng lực. Giúp đáp ứng nhu cầu phát triển vùng đệm theo các định hướng, mục tiêu quy hoạch đã đề ra. Phấn đấu tới năm 2020, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo đạt 50%. Trong đó đào tạo nghề đạt khoảng 40%. Tương ứng tới năm 2030 đạt 65% và 55%.
  • Tới năm 2020 có 50% số hộ, 35% làng, bản thôn đạt chuẩn văn hóa. Tới năm 2030 đạt tương ứng 70% và 45%.
  • Tới năm 2020 có 80% và năm 2030 có 95% các xã đạt chuẩn y tế theo cấp độ quốc gia. Năm 2020 phấn đấu giảm tỷ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng chỉ còn 15% và năm 2030 là còn 10%.
  • Tới năm 2020: Tỷ lệ người dân ở vùng đệm sử dụng nước đạt vệ sinh khoảng 80%. Năm 2030 là đạt trên 90%.
  • Phát triển vùng đệm đi kèm với việc bảo đảm an toàn trật tự xã hội. Giữ vững quốc phòng an ninh, văn hóa xã hội phát triển, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia vững chắc.

vùng đệm đặc dụng

Môi trường

Phát triển vùng đệm trong lĩnh vực môi trường với mục tiêu cụ thể như sau:

  • Tới năm 2020: Tỷ lệ xử lý và thu gom rác thải tại các khu vực đô thị đạt khoảng 70%. Tỷ lệ các hộ gia đình có công trình vệ sinh tự hoại đạt 80%.
  • Tới năm 2030: Tỷ lệ thu gom cũng như xử lý rác thải ở khu vực độ thị đạt chuẩn 100%. Tỷ lệ hộ gia định có nhà vệ sinh tự hoại đạt trên 90%.
  • Đồng thời đảm bảo tất cả các xí nghiệp, nhà máy và cụm tiểu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn.
  • Tỷ lệ rừng xanh được che phủ tới năm 2020 là 92% và năm 2030 là 93,5%.

Vai trò phát triển vùng đệm với kinh tế, xã hội và môi trường có thể đạt được bằng cách:

  • Nâng cao đời sống kinh tế cho dân cư sống ở vùng đệm. Nhằm giảm việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên tại khu bảo tồn.
  • Khuyến khích địa phương trong vùng đệm tham gia quản lý và quy hoạch hoạt động bảo tồn.
  • Giúp các địa phương lập kế hoạch quản lý cũng như: Phát triển tài nguyên thiên nhiên tại tại vùng đệm một cách vững chắc.
  • Chính quyền và đơn vị kinh tế tại vùng đệm phối hợp chặt chẽ. Trong việc quản lý và quy hoạch theo hướng hỗ trợ các mục tiêu bảo tồn được đề ra cho khu bảo tồn và cho việc phát triển vùng đệm.
  • Điều phối hoạt động đầu tư tại vùng đệm nhằm đạt được mục tiêu bảo tồn.
  • Khuyến khích các dự án phát triển vùng đệm cụ thể. Để ủng hộ mục tiêu bảo tồn (Nguyễn Văn Sản, D.A Gilmour, 1999).

Như vậy, việc phát triển vùng đệm sẽ giúp giải quyết khó khăn của kinh tế xã hội. Giúp nâng cao cuộc sống cho cộng đồng dân cư của đại phương. Tạo công ăn việc làm cho người dân giúp giảm bớt sức ép lên khu bảo tồn.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *