Sao la “Kỳ lân châu Á” được tìm thấy ở đâu?

Sao la còn được gọi là “Kỳ lân châu Á” có tên khoa học là Pseudoryx nghetinhensis. Đây là loài thú quý hiếm nhất thế giới được phát hiện ở núi rừng Trường Sơn Việt Nam và Lào vào năm 1992. Sao la là loài có nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên rất cao, được xếp hạng mức Nguy cấp trong sách đỏ của Liên minh bảo tồn thế giới IUCN và sách đỏ Việt Nam.

Sao la

Lịch sử khám phá ra sao la

Được phát hiện lần đầu tiên trên thế giới ở Việt Nam vào tháng 05/1992 trong chuyến khảo cổ do Bộ Lâm nghiệp Việt Nam và Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên Nhiên (WWF) thực hiện ở Vườn quốc gia Vũ Quang. Các nhà khoa học sau đó tiếp tục tìm kiếm và phát hiện thêm được 20 con sao la nữa vào năm 1992.

Việc khám phá ra sao la đã gây chấn động toàn thế giới, bởi trước đó chỉ có 5 loài thú lớn được phát hiện trong suốt 100 năm trước đó. Sau này chúng còn được tìm thấy ở các nơi khác thuộc phạm vi rừng Trường Sơn ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Huế, Quảng Nam và nhiều tỉnh ở Lào.

Tuy nhiên, đến năm 1996 mới bắt và chụp ảnh được một con sao la còn sống ở Lào. Sau vài tuần nó đã chết. Tháng 10/1998, những nhà khoa học lại chụp được ảnh sao la trong tự nhiên ở Vườn quốc gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An. Đầu tháng 08/2010, người dân tỉnh Borikhamxay, Lào bắt được một con sao la đực, chụp ảnh khi còn sống. Nhưng sau đó nó đã chết trước khi chuyên gia Sở Nông lâm tỉnh đến để tìm hiểu.

Ngày 07/09/2013, sau 15 năm biệt tăm ở Việt Nam kể từ năm 1998, hình ảnh sao la trong tự nhiên được ghi nhận ở Quảng Nam, qua máy ảnh của  WWF và Chi cục Kiểm lâm tỉnh.

sao la

Tên khoa học

Phát hiện năm 1992, đến năm 1993 mô tả khoa học đầu tiên về sao la được xuất bản. Ban đầu, nó được gọi là dê sừng dài, tên tiến anh là Vu Quang ox (bò Vũ Quang). Ở Nghệ An gọi là sao la.

Sau đó, các nhà khoa học đã đề nghị một tên giống mới, chi mới. Pseudoryx, do sự tương tự với các loài linh dương (oryx), cùng với nghetinhensis là nơi khám phá sao la (tỉnh Nghệ Tĩnh trước đây).

Theo kết quả nghiên cứu ADN năm 1999, sao la thật sực thuộc về Phân họ Trâu bò (Bovinae). Họ hàng gần của nó là chi Bò (Bos) và bò rừng Bison.

Đặc điểm sao la

  • Dài từ 1,3 – 1,5m, cao 90cm, trọng lượng nặng khoảng 100kg.
  • Da có màu nâu sẫm, trên mỗi móng của sao la đều có một đốm trắng.
  • Sừng dài có thể đến 51cm, mảnh dẻ và hướng thẳng về phía sau.

sao la

Nơi sống và sinh thái

Sao la sống ở các khu rừng rậm gần suối ở độ cao 200 – 600m trên mực nước biển dọc dãy Trường Sơn. Mùa đông, chúng di cư xuống vùng đất thấp hơn tránh rét. Thời gian sinh đẻ của sao la khoảng tháng 5 – đầu tháng 6.

Đây là loài thú còn lại từ thời cổ đại. Thức ăn chủ yếu là cỏ, lá cây rừng.

Sao la có đặc tính lẩn trốn con người. Do đó, hiện nay các nhà khoa học chưa thể đánh giá được số lượng chính xác. Theo dự đoán của các nhà khoa học, mật độ của sao la trong Vườn quốc gia Vũ Quang không quá 100 con. Tại Lào thì mật độ sao la cũng chưa rõ nhưng phân bố không liên tục.

Tháng 04/2011, Khu Bảo tồn Thiên nhiên Sao la (Saola Nature Reserve) rộng 160km được thành lập ở Quảng Nam. Mở rộng hành lang sinh thái nối liền Việt Nam và Vườn Quốc gia Xe Sap của Lào.

Hiện nay, ước tính có khoảng 50 – 60 con sao la trong khu bảo tồn ở Việt Nam. Tổng số trên toàn cầu không quá vài trăm con.

Hình ảnh sao la

sao la

sao la

Nguồn tham khảo: https://vi.wikipedia.org/wiki/Sao_la

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*