Project Assistant

Project Assistant vacancy at SUSFORM-NOW Project

SUSFORM-NOW is now seeking applications from Vietnamese nationals for the following posts:

1. Project Assistant

The assignment is based at the project office in Dien Bien Phu City for the initial contract period of one year with the possibility of extension. The assignment involves frequent travel to the field (mostly day trips by the project vehicles) and work in the villages of ethnic minorities including Thai, Hmong, and others.

Interested applicants are requested to send (1) cover letter and (2) CV (with the provided format) to the following address:

Name: Du an SUSFORM-NOW

Address: So NN&PTNT, So 672, Tho 1, Phuong Tan Thanh, TP-Dien Bien Phu, Tinh Dien Bien

Phone: 0230-3832856

Email: susform.now@gmail.com

Note that the CV format shall be fully filled otherwise it might not be considered as a part of the complete application package. Please clearly indicate which post you are applying for as we have several vacant posts announced at the same time.

Deadline for application is 1 May, 2013. The shortlisted candidates will be interviewed in early-mid May.

For more detail on the project, please see the following

website: http://www.jica.go.jp/project/english/vietnam/004/index.html

Important notice: If you apply through post, your application package should reach our office by the above deadline.

  • Terms of Reference
  • CV Template

Lâm sản ngoài gỗ – Cẩm nang ngành lâm nghiệp

Khái niệm về lâm sản ngoài gỗ (LSNG)

Việt Nam nằm ở Đông-Nam lục địa Châu Á, có đường biên giới trên đất liền khoảng 3.700 km dọc theo các triền núi và châu thổ Mê Kông, có bờ biển dài 3.260 km. Phần lãnh thổ đất liền của Việt Nam trải dài từ 80°30’đến 230°24’ vĩ Bắc, mang tính chất của một bán đảo với điểm cực Bắc là chòm Lũng Cú thuộc cao nguyên Đồng Văn, điểm cực Nam là xóm Rạch Tàu thuộc tỉnh Cà Mau. Các đảo của Việt Nam trải dài từ Trường Sa đến Vịnh Bắc Bộ, với những hệ sinh thái dặc thù như Phú Quốc, Côn Đảo, Hoàng Sa, Hạ Long, Bái Tử Long, v.v…Bắc Việt Nam, từ Đèo Hải Vân trở ra Bắc, nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng rõ rệt của gió mùa Đông Nam Á: gió mùa đông bắc mang theo không khí lạnh từng đợt từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau và gió mùa đông nam đưa tới những đợt không khí nóng ẩm từ tháng 4 đến tháng 10. Từ Hải Vân trở vào Nam nhiệt độ quanh năm nóng với hai mùa nắng mưa, đặc trưng của khí hậu nhiệt đới. Tuy nhiên, ở cả hai miền đều có những dãy núi cao, hình thành những hệ sinh thái khác biệt vùng thấp cùng vĩ độ. Những đặc điểm khí hậu và địa hình đó đã
tạo nên một Việt Nam giầu tính đa dạng sinh vật. Hiện nay các nhà thực vật học đã thống kê được trên 12.000 loài cây, trong đó 7.000 loài đã được mô tả, 5.000 loài còn chưa được biết công dụng, phần lớn là các loài cây dưới tán rừng không cho gỗ. Trong số những loài đã biết có 113 loài cây cho chất thơm; 800 loài cho tannin; 93 loài chứa chất làm thuốc nhuộm; 458 loài có tinh dầu; 473 loài chứa dầu và 1863 loài cây dược liệu.

Việt Nam có khoảng 10% tổng số những loài thực vật được biết trên Thế giới. Có những loài động thực vật từ trước tới nay chưa được biết đến mới được phát hiện ở Trường Sơn. Chỉ trong các năm 1992-1998 đã phát hiện thêm nhiều loài thú mới ở Bắc Trường Sơn: Mang lớn, Sao la, Mang Trường sơn, Bò sừng xoắn Tây nguyên. Mới phát hiện thêm 50 loài cây thuốc quí, như Amomum longiligulara, Rauwolfia vomitoria, Tetrapanax papyrifera… Các nhà thực vật học đã xác định khoảng 40-50% thực vật rừng Việt Nam có nguồn gốc Ấn Độ, Malai, Indonesia, Trung hoa,… di cư đến. Sự phong phú về loài của thực vật rừng Việt Nam rất cao: nhiều họ có trên 100 loài, như Phong lan có 901 loài; Thầu dầu có 333 loài; Cà phê có 286 loài; Cánh bướm có 290 loài… Nhiều họ thực vật ôn đới cũng được thấy ở Việt Nam như Hồ Đào, Du, Liễu, Dẻ… Có tới 8 họ cây Lá kim với 18 chi, 39 loài, một số loài đặc hữu, một số loài hiếm như: Thông lá dẹt (Ducampopinus krempfi), Thông 5 lá (Pinus dalatensis), Thủy tùng (Glyptostrobus pensilis), Thông đỏ (Taxus baccata).

1.1 Định nghĩa Lâm sản ngoài gỗ

Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ở Việt nam lâm sản được phân chia thành hai
loại:

  • Lâm sản chính (principale richesse forestière) là những sản phẩm gỗ;
  • Sản phẩm phụ của rừng hay lâm sản phụ (produit secondaire de la forêt), bao gồm
    động vật và thực vật cho những sản phẩm ngoài gỗ.

Từ 1961, lâm sản phụ được coi trọng và được mang tên đặc sản rừng. “Đặc sản rừng bao gồm cả thực vật và động vật rừng là nguồn tài nguyên giầu có của đất nước. Nó có vị trí quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, trong đời sống nhân dân, quốc phòng và xuất khẩu…” ( Bộ Lâm nghiệp – Kế hoạch phát triển Đặc sản rừng, 1981-1990). Theo định nghĩa đó Đặc sản rừng là một bộ phận của tài nguyên rừng nhưng chỉ tính đến những sản phẩm có công dụng hoặc giá trị đặc biệt và ngoài các loài thực vật dưới tán rừng còn bao gồm các loài cây cho gỗ đặc hữu hoặc được coi là đặc hữu của Việt Nam, như Pơ mu, Hoàng đàn, Kim giao… , như vậy thuật ngữ đặc sản cũng mang ý nghĩa kinh tế, vì không tính đến những sản phẩm không có hoặc chưa biết giá trị. Vì thế, danh mục những đặc sản rừng trong từng thời điểm cũng tập trung sự chú ý vào một số sản phẩm nhất định.

Ngày nay, trong Lâm nghiệp thuật ngữ lâm sản ngoài gỗ được dùng phổ biến, chính thức thay cho thuật ngữ lâm sản phụ (minor forest product/ secondary forest product). Định nghĩa của thuật ngữ này được thông qua trong hội nghị tư vấn lâm nghiệp Châu Á-Thái Bình Dương tại Băng Cốc, 5-8-1991: “Lâm sản ngoài gỗ (Non-wood forest product) bao gồm những sản phẩm tái tạo được ngoài gỗ, củi và than gỗ. Lâm sản ngoài gỗ được lấy từ rừng, đất rừng hoặc từ những cây thân gỗ”. Do đó, không được coi là LSNG những sản phẩm như cát, đá, nước, dịch vụ du lich sinh thái.

Theo định nghĩa này củi, than gỗ, cành ngọn, gốc cây không được coi là LSNG, không thỏa đáng đối với việc khai thác tận dụng phế liệu gỗ. Những dịch vụ trong rừng như săn bắn, giải trí, dưỡng bệnh trong rừng, du lịch sinh thái, v.v…là một phạm trù khác, không được xếp vào LSNG, nhưng trên quan điểm kinh tế cũng có nơi du lịch sinh thái cũng được coi như sản phẩm của rừng.

Hội nghị lâm nghiệp do Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc triệu tập tháng 6 năm 1999 đã đưa ra và thông qua một khái niệm và định nghĩa khác về LSNG “Lâm sản ngoài gỗ (Non timber forest product) bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ, được khai thác từ rừng, đất có cây rừng (wooded lands) và cây ở ngoài rừng”. Thuật ngữ này phải dịch sang Tiếng Việt là “Lâm sản ngoài gỗ cây”, nhưng để đơn giản vẫn dùng thuật ngữ LSNG. Với định nghĩa này, LSNG bao gồm cả động vật, gỗ nhỏ và củi và rộng hơn so với định nghĩa trước. Trong tài liệu sách báo nước ngoài, hiện tại cả hai thuật ngữ NWFP và NTFP vẫn được dùng. Song có tác giả, để hạn chế đối tượng nghiên cứu, đánh giá giá trị kinh tế của LSNG, như Jenne H. De Beer thêm vào định nghĩa trên một mệnh đề, thành một định nghĩa khác như sau: “LSNG bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật không phải gỗ được người ta khai thác từ rừng để sử dụng”. Có thể hiểu được rằng khái niệm hàm ý chỉ quan tâm đến sản phẩm được khai thác để dùng. Thuật ngữ “đặc sản rừng” còn hẹp hơn, và được hiểu là những cây, con LSNG có công dụng đặc biệt và đặc hữu của Việt Nam. Vì khái niệm
và định nghĩa LSNG có sự khác nhau như thế nên việc vận dụng vào thực tế cũng có sự khác
nhau.

1.2 Phân nhóm LSNG theo công dụng

Trên thế giới cũng đã có nhiều khung phân loại LSNG được đề xuất. Có khung phân loại dựa vào dạng sống của cây tạo ra các sản phẩm như nhóm cây gỗ, cây bụi, cây thảo, dây leo gỗ, dây leo thảo…. Có khung phân loại dựa vào công dụng và nguồn gốc của các LSNG, như khung phân loại được thông qua trong hội nghị tháng 11 năm 1991 tại Băng Cốc . Trong khung này, LSNG được chia làm 6 nhóm :

  • Các sản phẩm có sợi: Tre nứa; song mây; lá, thân có sợi và các loại cỏ.
  • Sản phẩm làm thực phẩm.
    • Các sản phẩm nguồn gốc thực vật: thân, chồi, rễ , củ, lá, hoa, quả, quả hạch,
      gia vị, hạt có dầu và nấm.
    • Các sản phẩm nguồn gốc động vật: mật ong, thịt động vật rừng, cá, trai ốc, tổ
      chim ăn được, trứng và côn trùng.
  • Thuốc và mỹ phẩm có nguồn gốc thực vật.
  • Các sản phẩm chiết xuất: gôm, nhựa, nhựa dầu, nhựa mủ, tanin và thuốc nhuộm, dầu
    béo và tinh dầu.
  • Động vật và các sản phẩm từ động vật không làm thực phẩm: tơ tằm, động vật sống,
    chim, côn trùng, lông mao, lông vũ, da, sừng, ngà, xương và nhựa cánh kiến đỏ.
  • Các sản phẩm khác: như lá Bidi (lá thị rừng dùng gói thuốc lá ở Ấn Độ)

Để hoà nhập với các nước láng giềng chúng tôi đề nghị sử dụng khung phân loại các LSNG được thống nhất trong Hội nghị các nước vùng Châu Á Thái Bình Dương, tháng 11 năm 1991 tại Băng Cốc, Thái lan và có sửa đổi để phù hợp với thực tế Việt Nam.

Trước hết chúng tôi đã bổ sung thêm 3 nhóm phụ : (1) Các cây có chất độc vào nhóm 3 (cây thuốc và mỹ phẩm); (2) Các cây cảnh; (3) Các lá dùng để gói, bọc vào nhóm 6 (các sản phẩm khác).

1.3 Khung phân loại các LSNG được đề xuất

Để phù hợp với điều kiện thực tế, chúng tôi đề xuất khung phân loại LSNG của Việt Nam như sau :

  • Sản phẩm có sợi, bao gồm: tre nứa, mây song, các loại lá, thân, vỏ có sợi và cỏ.
  • Sản phẩm dùng làm thực phẩm:
    • Nguồn gốc từ thực vật: thân, chồi, củ, rễ, lá, hoa, quả, gia vị, hạt có dầu, nấm
      ăn.
    • Nguồn gốc từ động vật rừng: mật ong, thịt thú rừng, cá trai ốc, tổ chim ăn
      được, trứng và các loại côn trùng.
  • Các sản phẩm thuốc và mỹ phẩm:
    • Thuốc có nguồn gốc thực vật
    • Cây có độc tính
    • Cây làm mỹ phẩm
  • Các sản phẩm chiết xuất:
    • Tinh dầu
    • Dầu béo
    • Nhựa và nhựa dầu
    • Dầu trong chai cục
    • Gôm
    • Ta-nanh và thuốc nhuộm
  • Động vật và các sản phẩm động vật không làm thực phẩm và làm thuốc.
    • Động vật sống, chim và côn trùng sống: da, sừng, xương, lông vũ…
  • Các sản phẩm khác:
    • Cây cảnh,
    • Lá để gói thức ăn và hàng hóa …

Tuy nhiên, đối với từng loài cụ thể việc phân loại không cố định mà biến đổi theo địa phương và thời gian vì công dụng của lâm sản có sự thay đổi, ví dụ: Quế có thể xếp vào dược liệu nhưng cũng được xếp vào gia vị… cũng như nhiều sản phẩm có thể được phân vào các nhóm khác nhau tuỳ từng nơi, từng lúc…

1.4 Tiêu chí để phân biệt LSNG và cây nông nghiêp

Ngày càng có nhiều loài cây rừng, trong đó đa số là LSNG, được trồng trên đất nông nghiệp. Trong nhiều trường hợp cây cho LSNG đã được coi là cây nông nghiệp như cây Điều, Sơn, Sở… Ngược lại, có nhiều loài cây được trồng ở vùng nông nghiệp nhưng vẫn được coi như LSNG như nhiều loài tre, trúc, mây. Vì vậy, việc đưa ra “Tiêu chí” để phân định cây thuộc LSNG là cần thiết:

  • Cây có nguồn gốc từ rừng và hiện còn được trồng trên đất Lâm nghiệp
  • Cây thuộc sự quản lý của Lâm nghiệp (do Nhà nước quy định).

Những tiêu chí này chỉ mang tính quy ước để thuận tiện cho quản lý, không có ý nghĩa khoa học kĩ thuật.

Tải file đầy đủ: Lâm sản ngoài gỗ – cẩm nang ngày lâm nghiệp.pdf

reddesk vietnam

Viet Nam REDD network foundation

Nguyễn Bích Hằng – Communications Officer, FSSP

Hanoi – On 22 July 2009, the Forest Sector Support Partnership (FSSP) in collaboration with Department of Forestry (MARD) and its partners held a meeting for the establishment of REDD (Reducing Emissions from Deforestation and Forest Degradation) network in Viet Nam.

The Department of Forestry (DoF) is the focal point within the Government of Viet Nam to oversee the development and implementation of a national REDD programme. The DoF is currently seeking to develop a National REDD programme to engage in international forest carbon markets and provide inputs to international talks regarding a future REDD international trading scheme at the United Nations Framework Convention on Climate Change (UNFCCC) COP-15 in Copenhagen in December 2009.

The REDD Network is a multi-partner team to support the development of REDD readiness in the context of efforts by the Government of Vietnam to address Climate Change mitigation and adaptation, as reflected in the National Target Programme on Climate Change Response for the period 2009-2015 (NTP/CCR).

The strategic objectives of the NTP/CCR are to assess climate change impacts on sectors and regions; and to take opportunities to develop towards a low-carbon economy, and to join the international community’s efforts in mitigating climate change and protecting the climatic system.  In the context of these objectives of the NTP/CCR, the objective of the REDD Network is to coordinate the activities of Vietnamese agencies and international development partners (including NGOs) in establishing the necessary institutions, policies and processes to allow Viet Nam to participate actively and effectively in programmes of the UNFCCC to reduce deforestation and forest degradation, and to promote conservation, sustainable forest management, and enhancement of forest carbon stocks (“REDD+”).

At the meeting, it was agreed that the REDD Network will be chaired by the DoF and co-chair by international development partner on a rotation basis with Norwegian Embassy will take the role for the first cycle. Membership of the REDD Network is open-ended, consisting of representatives of the DoF, the Department of International Cooperation (ICD), Coordination Office of the Forest Sector Support Partnership (FSSP), National Office for the implementation of the UNCCD, other relevant departments and organizations of the Government of Viet Nam, and representatives of relevant bilateral and multilateral development partners and broader stakeholders if possible. Proposed Terms of Refrence of the Network was endorsed, and some follow-up action were agreed to be done soon for preparation of UN-REDD Inception Workshop on 27 August 2009.

Trust Fund for Forests

TFF – Trust Fund for Forests

The Trust Fund for Forests (TFF) was established through an Official letter 850/CP-NN dated 23rd June 2004. At the same time four bilateral donors (Finland, the Netherlands, Sweden and Switzerland) signed a Memorandum of Understanding (MOU) with the Ministry of Agriculture and Rural Development (MARD), which committed them to pool their ODA contributions in support of Vietnam’s forest sector during an initial three year transition phase of the TFF.

What is the TFF?

The Trust Fund for Forests (TFF) is a financing mechanism for pooling donor contributions and ensuring these are used effectively to address sector priorities within agreed policy frameworks, such as the National Forest Development Strategy.

What is the mission statement of the TFF?

Vietnam’s Trust Fund for Forests will provide a grant facility to support pro-poor and sustainable approaches to forest management and a transition towards a comprehensive sector wide approach for development and cooperation in the forest sector.

What are the TFF’s goals and objectives?

The overall goal of the fund is consistent with that of the existing National Forest Development Strategy – “The sustainable management of forests and the conservation of biodiversity to achieve: a) protection of the environment, b) improved livelihoods of people in forest dependent areas, and c) enhanced contribution of forestry to the national economy.”

The TFF has four specific objectives:

  • Aligning ODA support more closely with the agreed priorities identified in the FSSP framework
  • Improving poverty targeting of ODA support to the forest sector, consistent with the CPRGS
  • Harmonizing aid delivery from ODA to the forest sector and reducing transaction costs on GoV
  • Supporting a transition towards a sector wide approach to ODA support in the forest sector

The TFF’s organizational structure

The organizational structure of the TFF consists of a Board of Directors (BoD) and a TFF Management Unit (TFF MU). The BoD is chaired by MARD’s Vice Minister responsible for the forest sector; members include leaders of MARD’s International Cooperation Department, Planning Department, Finance Department, representatives from other relevant departments of MARD together with a representative from TFF donors. The BoD performs an executive function and is responsible for decisions on operations, orientation and annual income and expenditure of the TFF.

The TFF Management Unit is responsible for managing and operating the TFF in accordance with the directions approved by the BoD. During the initial transition phase, the Forest Sector Support Partnership Coordination Office (FSSP CO) acts as the TFF MU. Beyond this, during a full implementation phase, it is intended that the TFF will be fully institutionalized within MARD.

Address: The Trust Fund for Forests (TFF)

Ministry of Agriculture and Rural Development

3rd floor, A8 Building, 10 Nguyen Cong Hoan, Ba Dinh, Hanoi

Contact: Nguyen Chien Cuong (Mr.): Tel: 04 7629412, ext. 108

TFF financing

The Governments of Finland, Netherlands, Sweden and Switzerland contribute non-refundable ODA funds to the TFF. Germanyprovides support through provision of technical assistance for development and operation of the TFF.

Funds provided by the four donors are un-earmarked allowing them to be used to support programs, projects and non-project activities to implement agreed priorities of the FDS. As of 31st December 2007 in total approximately Euro 13.5 million in un-earmarked commitments have been made by the donors for the transition phase. In addition Finland provides earmarked funds totalling Euro 4.2 million, which co-finance the Forest Sector Development Project.

Support from TFF

The TFF provides support in the form grants either as a sole donor or co-financier to programs, projects and non-project activities. By December 2007, 22 projects and activities had been endorsed for support from the TFF with a total value of Euro 29 million.

The TFF is able to support national organizations. During implementation of programs or projects, international NGOs and international organizations that are legally operating in Vietnam can participate as technical service providers to a national implementing agency.

The TFF is able to consider requests for funding on the basis of priorities identified by MARD and agreed by the BOD based on the implementation status of the Vietnam Forest Development Strategy (2006-2020) and the sectoral plans. In general one or more organisations can be pre-selected by MARD/TFF to prepare proposals to address such priorities.

Forest Sector Support Partnership

Introduction Forest Sector Support Partnership

Since 1999, the Forestry Partnership and the Government of Viet Nam have experienced 3 development phases: (i) Partnership for supporting 5 Million Hectares Reforestation Program (5MHRP), 1999-2001; (ii) Forest Sector Support Program and Partnership (FSSP&P), 2001-2006; and (iii) Forest Sector Support Partnership (FSSP or also called Forestry Partnership) from late 2006.

FSSP is aimed to have “An effective Forestry Partnership among government, private sector, non-governmental and international stakeholders contributes to implementation of the Viet Nam Forestry Development Strategy (2006 – 2020), by promoting information sharing, increasing policy dialogue and collaboration on important forest sector issues, and maximizing the effectiveness of the activities of the Partnership members aimed to support the forestry sector of Viet Nam.

In order to meet the objectives, FSSP has developed and put in place its institutional structure (Partnership forum, Partnership Steering Committee (PSC), Technical/ Executive Committee (TEC), Regional Forestry Networks (RFNs), FSSP Coordination Office (FSSPCO)), developed and utilized a range of instruments (annual review meetings, thematic workshop, Regional Forestry Network meeting, investment forum, thematic newsletters, FSSP website, FOMIS, thematic articles and publications on key issues in the Strategy or sectoral ones in reality, policy evaluation and economic – technical evaluation done by international and domestic experts, and participation in regional and international fora and initiatives).

As the result, Forest Sector Support Partnership has made substantial contributions recently with sectoral achievements reflecting in following aspects:

PSSP – An effective forum for information sharing and policy dialogue

FSSP has created plenty of fora, where Government of Viet Nam and international and domestic partners could exchange information on scientific technology, management, institutions and policies relating to forestry at national, regional and global scale. Through information sharing and policy dialogue fora, FSSP has definitely made remarkable contributions on important issues of the forest sector of Viet Nam, such as in development of Forest Protection and Development Law 2004, development and implementation of National Forestry Strategy 2001 – 2010, and Viet Nam Forestry Development Strategy 2006 – 2020, and other legal documents of the sector.

FSSP – Strengthening resource mobilization, coordination and cooperation in key fields of the sector

FSSP has played an important role in mobilizing resources for the sector and strengthening coordination and cooperation among partners, resulting in substantial contributions in improving resource utilization efficiency (including efficiency), it especially attracted concerns and resources of stakeholders, contributing to resolution of key issues in implementation of the sectoral strategy, e.g. supporting the steering committees of 5 key VFDS programs.

FSSP – Respond to newly emerging issues

Recently, FSSP has worked actively and flexibly to meet new requirements, especially in Forest Law Enforcement, Governance and Trade (FLEGT) and Reducing Emissions from Deforestation and Forest Degradation (REDD). In addition, FSSP CO has been playing Secretariat role for REDD National Working Group and Network as well as Vietnam’s stakeholders in accessing support from regional and international initiatives, e.g. Asia Pacific Forestry Commission (APFC), National Forestry Programme (NFP), Asia Pacific Network for Sustainable Forest Management and Rehabilitation (APFNet).

The forest sector is under institutional restructuring process aimed at strengthening the sectoral governance and improving the effectiveness and comprehensiveness in forestry – based state administration. With the establishment of Directorate of Forestry (VNDoF) on the basis of reorganizing two forestry agencies, i.e. Department of Forestry and Forest Protection Department, the institutional and organizational structure of the sector will be changed accordingly and appropriately. Along with the mandate of maximizing significantly support for the sector, FSSP needs to change itself in terms of functions, operations and organizational structure to better support the forest sector in the coming time.

Beside that Viet Nam is going to become middle – income country at low level and facing global challenges on climate change, energy security, food security and biodiversity conservation, the Ministry of Agriculture and Rural Development (MARD) and Partners agreed that FSSP will continue to play important roles contributing to the development and implementation of Viet Nam Forestry Development Strategy 2006-2020 especially in 2011-2015 period.

FSSP’s development orientation in 2011-2015 is to strengthen its contributions to the forest sector in 3 dimensions:

  • Firstly, FSSP’s policy dialogue will be improved with higher strategic level by focusing its priority on strategic issues of the sector, reviewing current policies and orientating development of appropriate policies.
  • Secondly, FSSP will expand its membership to private sector, profession associations, local NGOs so as to be better listening from and making full use of various experiences, contributions and proposals of such agencies towards VFDS implementation at national, regional and local levels.
  • Thirdly, FSSP will further improve the Monitoring and Evaluation (M&E) systems for (i) VFDS implementation; (ii) process and results of implementing conclusions, proposals and recommendations (from workshops, fora… under FSSP) for the forest sector in VFDS implementation; and (iii) FSSP activities.
Comment on the Draft 6 of Timber

Comment on the Draft 6 of Timber and Timber product legality definition and the Draft 3 of TLAS for VPA/FLEGT negotiation with EU

For next official VPA/FLEGT negotiation round between Viet Nam and EU, VNFOREST continues to call for comments on the Draft 6 of Timber and timber product legality definition and the Draft 3 of TLAS.

Comments should be sent before 28 February, 2013 to FLEGT and Lacey Standing Office, VNFOREST, MARD, 2 Ngoc Ha, Ba Dinh Ha Noi, fax: 04.38438793, or via email: nguyentuongvan.ln@mard.gov.vnnguyenminhthuong.vnforest@gmail.com.

The Draft 6 of Timber and timber product legality definition
The Draft 3 of TLAS – Organizations
The Draft 3 of TLAS – Households

List of Partnership Steering Committee members

List of Partnership Steering Committee members

List of Partnership Steering Committee members

No

Full name

Organisation

Tel

Fax

Email

Note

1

Hứa Đức Nhị Vice Minister, MARD 04. 38436172 huaducnhi@yahoo.com Chairman

2

Juergen Hess Manager, Management of Natural Resources programme, GIZ 04. 39329576, ext: 102 04. 39329575 juergen.hess@giz.de Co-chair

3

Phạm Văn Tấn Deputy Director, International Cooperation Department, Ministry of Natural Resources and Environment 04. 37735084 04. 38352191 pvtan@monre.gov.vn Member

4

Đinh Ngọc Minh Deputy Director, Agriculture Economic Department, Ministry of Planning and Investment 04. 38355310 04. 38234716 ngocminhmpi@yahoo.com.vn Member

5

Nguyễn Thị Hồng Yến Deputy Director, Department of Debt Management and International Finance, Ministry of Finance 04. 22202828, ext: 3034 nguyenhongyen@mof.gov.vn Member

6

Trần Kim Long Deputy Director, International Cooperation Department, MARD 04. 38434682 04. 37330752 tklongidmard@fpt.vn Member

7

Nguyễn Văn Hà Deputy Director, Department of Finance, MARD 04. 37345865 04. 38237535 ngvanha@yahoo.com Member

8

Phạm Xuân Thịnh Senior Specialist, Department of Planning, MARD 04. 38432615 04. 38233811 thinh.dop@gmail.com Member

9

Nguyễn Nghĩa Biên Director, Department of Planning and Finance, Administratrion of Forestry, MARD 04. 38439185 bienforest@gmail.com Member

10

Hoàng My Lan Senior programme officer, SDC 04. 93346627 04. 39346633 lan.hoang@sdc.net Member

11

Lê Thị Thu Hường Programme Coordinator, Finland Embassy 04. 3826 6788, ext: 213 04. 3826 6766 huong.lethithu@formin.fi Member

12

Yuriko Shoji FAO Viet Nam Representative 04. 39424208 04. 39423257 yuriko.shoji@fao.org Member

13

Noriyoshi Kitamura Forestry Programme Advisior, JICA 04. 38439120 04. 38439120 noriyoshi.kitamura@gmail.com Member

14

Nguyễn Quang Tân National coordinator, RECOFTC Việt Nam 04. 37264745 04. 37264746 tan@recoftc.org Member

15

Ngô Thị Kim Yến PS-ARD management and support board, Helvetas 04. 38431750 04. 38431744 kim.yen@helvetas.org Alternate member

16

Trịnh Lê Nguyên Director, Pan Nature 04. 35564001 04. 35568941 nguyen@nature.org.vn Member

17

Vũ Thị Hiền Director, CERDA 04. 62690174 04. 62690848 tranvuhientk@yahoo.com Alternate member

18

Nguyễn Tôn Quyền Vice President, General Secretary, VIFORES 04. 62782122 04. 37833016 info@vietfores.org Member

19

Nguyễn Xuân Vỹ Hà Tĩnh forest protection sub-department, Northern Centre RFN 039. 3857808 039. 3858024 nguyenxuanvyht@gmail.com Member

20

Lê Văn Minh Vice director, DARD Lâm Đồng, Central Highlands RFN 063. 3831995 063. 3828630 vodinhthodalat@gmail.com Member

21

Nguyễn Bá Ngãi Director, FSSP CO 04. 38438792 04. 38438793 nguyenbangai@gmail.com Member

 

Forest Sector Supporet Partnership – Terms of Partnership Steering Committee (PSC)

This document constitutes the Terms of Reference describing main functions, tasks, institutional structure, rights and responsibilities, and mode of operations of the Partnership Steering Committee (PSC) for the period of 2011-2015.

Main Functions

PSC provides Chairman, Co-chair and MARD, Viet Nam Administration of Forestry with advisory ideas on strategic and key issues of the forest sector and VFDS implementation in certain period.

Tasks

PSC will made decision on priority issues and topics for FSSP forum and provide guidance and monitor FSSP CO operations.

More specifically its responsibilities include:

  • PSC forms the principle forum to discuss and achieve increased harmonisation of policies and programs, effectiveness and efficiency in allocation of resources and sector monitoring, and thus assists MARD leaders, especially the Vice-Minister who is the FSSP Partnership Chair, in considering National Forest Strategy funding priorities and possible sources of support, and thereby identifies priority actions for the Partnership and suggests to the Partnership stakeholders the possibilities for a division of tasks among stakeholders;
  • Via the FSSP Coordination Office, PSC obtains feedback from, and provides guidance to the Forestry Regional Networks, any working groups established under the Partnership and any other relevant committees; and
  • PSC supervises and oversees the FSSP Coordination Office activities, including the reporting, annual work plans and budgets, and assigns tasks to the FSSP CO to help realise the PSC or Partnership objectives..

PSC is empowered to make decisions on the following issues:

  • Approve annual Work Plan of the FSSP CO and the Budget for the Partnership and CO operations, which are financed through the CO Trust Fund;
  • Approve the topics, agenda, and arrangements for the Partnership meetings;
  • Recommend to the Partnership priorities for sector support, with suggestions on how different stakeholders can provide support.

Institutional structure

Members of the Partnership Steering Committee may include:

  • PSC Chairman is FSSP Chairman (MARD Vice-Minister, VNFOREST Director General
  • PSC Co-chair is FSSP Co-chair (representative of international partners) working on rotation basis (one – year term)
  • Representatives from the Government of Viet Nam including 4 members from MARD (VNFOREST:1, International Cooperation Department:1, Planning Department: 2, Finance Department:1), 1 from MONRE, 1 from MPI, and 1 from Ministry of Finance
  • Donor representatives: 2-3
  • Representative of bilateral organizations: 1
  • Representative of Multilateral organizations: 1
  • Representative of international Non-Governmental Organizations (INGOs): 1
  • Representative of local NGOs: 1
  • Representative of enterprises and associations: 1
  • Regional Forestry Networks: 2
  • FSSP CO representative – cum secretary of PSC: 1

Rights and responsibilities

  • PSC Chairperson:The Vice-Minister will serve as the Chairperson of the PSC. As such, s/he is responsible for all PSC activities, maintaining the normal operations of PSC as promulgated in PSC TOR, and approval and signing of PSC documents. S/he can decide on the timing of the PSC meetings. At PSC meetings, s/he is in charge as Chairperson of the meetings, and gives the final conclusions at the end of the meetings. The Chairperson and Co-chairperson also have the right to decide about the application from international organisations that wish to become members, or signatories to the MOA. The PSC Chairperson is supported by the FSSP Coordination Office, the international Co-chairperson and all other PSC members.
  • PSC Co-Chairperson: The international Co-Chairperson of the Partnership will serve as the Co-chairperson of the PSC. As such, s/he assists the Chairperson with all PSC activities, maintaining the normal operations of PSC as promulgated in PSC TOR, and endorses PSC documents to be submitted to the Chairperson for final approval and signature. The PSC Co-Chairperson works closely with the PSC Chairperson, and is supported by the FSSP Coordination Office and all other PSC members.
  • PSC members: the central Government representatives are assigned by their institutions to participate in PSC. As such, they represent their institutions and do not serve in their personal capacity, and therefore serve as the liaison between the PSC and government departments. They should work actively to support the Partnership approach and to implement the National Forest Strategy.
  • The other Vietnamese PSC members represent national non-governmental organisations, private sector, or regional networks represent groups of stakeholders. As such, they are then selected by their respective groups, and represent the interests of the entire group. The representatives are expected to regularly consult with their members, and discuss relevant issues prior to PSC meetings.
  • The international PSC members are the international organisations that are signatories to the Memorandum of Agreement. An international organisation wishing to become a signatory to the MOA must submit a written application to the PSC Chairperson and Co-Chairperson, explaining their ongoing and planned activities to support the forest sector in Vietnam. The Chairperson and Co-Chairperson will have the right to decide about such applications. The international signatories will consult annually among themselves on the position of international Co-chairperson of the PSC.
  • All PSC members have responsibilities to participate actively in PSC meetings, prepare before meetings if needed, and give comments on PSC documents if required by PSC Chairperson. Each voting PSC member has rights to vote on PSC decisions.

Mode of Operations

PSC Meetings: PSC meets at least once every six months. The operations of PSC, however, will be maintained on a continuous basis rather than only limited to meetings. Extraordinary meetings can be called by the PSC Chairperson.

Formal Decision-Making: any decision to be made in PSC meetings should receive at least one more vote than 50% of the total voting members. FSSP CO is in charge of drafting meeting minutes stating the precise wording of the decision, the number of votes cast and whether or not the decision was carried. This resolution will be approved by signature of the chairperson or co-chair and circulated to all PSC members.

The functioning of PSC should be reviewed periodically in an annual review meeting and recommendations should be made to improve its efficiency.