Trang 3 trên 4

khổ qua rừng

Tại sao khổ qua rừng lại được săn lùng nhiều đến vậy?

Khổ qua rừng là thứ quả vừa quen vừa lạ nhưng lại được nhiều người săn lùng. Bởi tác dụng vừa có thể làm đẹp, vừa có thể phòng bệnh. Hãy cùng tìm hiểu thông tin hữu ích về thứ quả này nhé.

Khổ qua rừng là quả gì?

Khổ qua rừng hay còn gọi là quả mướp đắng rừng, thuộc họ bầu bí, quả ăn được. Thuộc loại đắng nhất trong các loại rau quả. Cây có nguồn gốc ở một số quốc gia vùng nhiệt đới Châu Á hoặc Châu Phi. Chúng ta có thể tìm thấy loại quả này ở một số quốc gia như Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, Caribbean…

Cây khổ qua rừng có hình dáng gần giống khổ qua trồng nhưng thân, lá và quả nhỏ hơn, vị đắng hơn. Hiện nay, nhiều người đã tìm giống về trồng để có thể sử dụng thường xuyên hơn thứ quả này.

khổ qua rừng

Tác dụng bất ngờ của khổ qua rừng

Khổ qua rừng được nhiều người săn lùng bởi chúng được sử dụng như một loại rau quả tự nhiên. Nhiều dinh dưỡng và hỗ trợ điều trị một số căn bệnh. Cụ thể, một số tác dụng của khổ qua chúng ta nên biết như sau:

  • Thực phẩm giàu dinh dưỡng: Khổ qua rừng được coi là thực phẩm chứa nhiều chất dinh dưỡng. Đặc biệt tốt cho việc thanh lọc cơ thể. Loại quả này có vị đắng thanh mát, nhiều nước, giòn. Nên sẽ mang lại cảm giác ngon miệng hơn khổ qua thông thường.
  • Thải độc cơ thể, giúp da dẻ mịn màng: Theo đông y, khổ qua rừng có vị đắng, tính hàn. Khi sử dụng sẽ giúp giảm mụn nhọt, các bệnh ngoài da, làm cho da mịn màng, tươi sáng.
  • Hỗ trợ điều trị bệnh ung thư: Theo nhiều nghiên cứu cho biết, khổ qua rừng có các chất giúp tiêu diệt virus và vi khuẩn, ngăn ngừa các tế bào ung thư. Do vậy chúng rất tốt cho các bệnh nhân ung thư.

Ngoài ra, khổ qua có thể dùng để chữa một số bệnh như: Huyết áp cao, tim mạch, mất ngủ, tiểu đường, trĩ, đau bụng, men gan cao,… Các bệnh khác nhau sẽ có các công thức điều trị kết hợp với một số thảo dược khác.

Ngoài ra, tùy theo từng trường hợp và bệnh lý khác nhau mà cách dùng khổ qua rừng để chữa bệnh cũng khác nhau. Vì vậy, trước khi sử dụng nên tham khảo sự tư vấn của các chuyên gia để không “rước thêm họa vào thân”.

Cách dùng khổ qua rừng đúng chuẩn để tốt nhất cho cơ thể

Khổ qua rừng mang đến nhiều công dụng tuyệt vời cho cơ thể. Chính vì vậy mà nhiều người săn lùng. Tuy nhiên, nếu như sử dụng không đúng cách. Kết hợp với thực phẩm không đúng thì có thể sẽ gây ra một số nguy hiểm cho cơ thể. Một số cách dùng phổ biến được nhiều người áp dụng là:

Chế biến các món ăn từ khổ qua rừng

Khổ qua rừng có thể chế biến thành các món ăn ngon, hấp dẫn như khổ qua thông thường. Tuy nhiên, nhiều người đánh giá rằng khổ qua rừng giòn hơn, vị đắng hơn nhưng lại mang đến vị ngon riêng biệt.

Một số món ăn có thể chế biến từ loại quả này là: Xào trứng, xào thịt, nhồi thịt hấp, lẩu khổ qua cá thác lác,… Người dùng có thể kết hợp thay đổi món để giúp tăng hương vị. Tạo sự kích thích cho bữa ăn hàng ngày.

Làm trà khổ qua rừng

Nếu như người dùng không muốn chế biến thành món ăn. Có một cách siêu đơn giản, siêu nhanh gọn: đó là làm trà.

Cách thực hiện đơn giả như sau:

  • Chuẩn bị 1 cân khổ qua rừng, rửa sạch, để ráo nước.
  • Thái thành từng lát mỏng, có thể để cả hạt hoặc bỏ hạt.
  • Xếp các lát khổ qua đã thái lên rổ sạch, phơi nắng sao cho khô. Tùy vào nhiệt độ ngoài trời mà có thể phơi 1 nắng hoặc 2 nắng. Có thể che một lớp vải mỏng lên trên để tránh bụi bẩn.
  • Tiếp đó, lấy khổ qua rừng đã phơi khô sao vàng trên bếp. Cho đến khi chuyển màu nâu nhẹ, tắt bếp và để nguội. Lấy lọ thủy tinh, cho khổ qua vào, đóng chặt nắp. Bảo quản trong tủ lạnh để dùng trong khoảng 2 tháng. Lưu ý, ngoài quả khổ qua rừng thì có thể tận dụng dây, lá, rễ làm trà đều có tác dụng tuyệt vời cho cơ thể.

Để thưởng thức trà, chúng ta lấy vài lát khổ qua rừng. Hãm trong ấm nước nóng và dùng khoảng 2 chén mỗi ngày. Để tăng hương vị và dễ uống, người dùng có thể cho thêm mật ong, đá, cỏ ngọt tự nhiên,…

cây khổ qua rừng

Sử dụng các dạng điều chế từ khổ qua rừng

Một số người không thể sử dụng khổ qua rừng nguyên chất. Vì vị đắng khó chịu nên họ thường lựa chọn một số dạng điều chế sẵn của loại quả này. Song, khi sử dụng các sản phẩm này thì tinh chất sẽ không được đầy đủ như cây khổ qua nguyên dạng. Và có thể sử dụng phải sản phẩm không uy tín. Do đó, người bệnh cần phải cảnh giác và lựa chọn sản phẩm đúng chất lượng, đúng cơ sở uy tín.

Những điều cần lưu ý trước khi sử dụng khổ qua rừng

Khổ qua rừng mang lại nhiều công dụng tuyệt vời cho mọi người. Nhưng không phải ai cũng có thể sử dụng được. Theo các chuyên gia, khổ qua rừng chống chỉ định với một số người sau:

  • Phụ nữ mang thai và sau sinh.
  • Cơ thể hay bị đau đầu hoặc đau đầu kinh niên, nhạy cảm.
  • Những người thường xuyên bị hạ huyết áp.
  • Trường hợp bị rối loạn chức năng tiêu hóa do lạnh.
  • Những người mắc bệnh thận cũng không nên sử dụng khổ qua rừng.

Đối với những người muốn sử dụng khổ qua rừng để làm đẹp, chữa bệnh thì nên có chế độ vừa đủ. Không lạm dụng quá liều lượng nếu không có thể sẽ gây hại cho cơ thể. Hãy tham khảo ý kiến chuyên gia trước khi thực hiện. Không nên nghe theo bài thuốc bí truyền nào. Nếu không có thể sẽ mang lại tác dụng không mong muốn.

Như vậy, có thể khổ qua rừng vừa quen vừa lạ nhưng lại mang đến nhiều tác dụng bất ngờ cho cơ thể. Thứ quả rẻ tiền, dễ tìm kiếm, dễ thực hiện đã tạo nên cơn sốt nhiều người săn lùng. Để mang lại bí quyết chăm sóc sức khỏe từ thiên nhiên an toàn, hiệu quả cho chính mình. Người dùng hãy là người sử dụng thông minh. Dùng đúng cách và đúng liều lượng để đạt được kết quả tốt nhất cho cơ thể.

mèo rừng việt nam

Mèo rừng – Loài động vật nhỏ nhưng quý hiếm trên thế giới

Mèo rừng là loài động vật nhỏ, đáng yêu nhưng quý hiếm trên thế giới. Hiện nay, mèo rừng đang có xu hướng bị tuyệt chủng bởi sự săn lùng của nhiều người. Mong muốn thỏa mãn thú vui và hám lợi về kinh tế.

Thông tin thú vị về loài mèo rừng

Mèo rừng có tên khoa học là Felis silvestris, là một giống mèo nhỏ có nguồn gốc từ châu Âu, Tây Á và châu Phi. Được tìm thấy ở nhiều nơi trên thế giới hoặc có thể được nuôi như mèo nhà.

Môi trường sống từ xa xưa của loài này là rừng rậm, thảo nguyên, xavan. Loài mèo nhỏ này chuyên ăn thịt các loài động vật có vú nhỏ, chim, các loài thú có kích thước bằng hoặc nhỏ hơn.

mèo rừng việt nam

Đặc điểm nhận dạng của mèo rừng

Mèo rừng có kích thích tương đương giống như mèo nhà. Có lông bụng màu trắng, nhiều đốm khắp trên cơ thể. Thông thường, mèo rừng có cân nặng khoảng 4kg-9kg, chiều dài không đến 80cm. Đặc biệt, bề ngoài của con cái và con đực có hình dáng rất giống nhau.

Mèo rừng có đuôi dài, khoảng 50cm. Đuôi của chúng thường được sử dụng để giữ cân bằng cho cơ thể khi leo trèo, di chuyển.

Đây là loài động vật chuyên hoạt động vào ban đêm nên mắt của chúng rất to, sáng. Để có thể nhìn và di chuyển trong môi trường đầy bóng tối. Mèo rừng chủ yếu sống ở trên cây. Thức ăn của chúng là các loài động vật như sóc, thú có túi, con lười, con nhím, con ếch, con thằn lằn và chim,…

Mèo rừng tự nhiên có tuổi thọ khoảng 10 năm. Nhưng nếu sống trong môi trường được nuôi dưỡng như sở thú thì con số này lên đến là 20 năm.

Mèo rừng Việt Nam quý, hiếm và khó tìm

Mèo rừng Việt Nam được đánh giá là một trong những loài khó tìm nhất trên thế giới. Đây là loài động vật có tên gọi là mèo gấm, hay còn gọi là mèo cẩm thạch.

Mèo gấm có bộ lông đẹp nhất trong họ nhà mèo, thuộc chi Pardofelis. Thường sinh sống ở các khu rừng Đông Nam Á. Loài mèo này có họ hàng với báo lửa. Chúng cùng với mèo lửa xứ Borneo Pardofelis badia hợp thành chi Pardofelis.

Kích thước của mèo gấm gần tương đương như mèo nhà. Chiều dài khoảng 60cm, trọng lượng từ 2-5kg và đặc biệt đuôi khá dài lên đến 55cm.

Điểm đặc biệt của mèo gấm là bộ lông tuyệt đẹp. Cằm và dưới môi có màu trắng hoặc vàng nhạt, sau tai có đốm trắng. Mèo gấm có lớp lông dày, mịn, màu xám xanh hoặc xám nâu, nhiều hoa văn cẩm thạch xung quanh. Chân và đuôi của mèo gấm có nhiều đốm thẫm.

Mèo rừng Việt Nam đang phải đứng trước nguy cơ bị suy giảm về số lượng. Nguyên nhân là vì bộ lông sặc sỡ nên nhiều người đã tìm cách săn bắt để làm thú nuôi hoặc lấy lông. Ngoài ra, với tình trạng nạn phá rừng xảy ra càng nhiều làm cho môi trường sống của mèo rừng cũng bị thu hẹp.

Hiện nay, trên thế giới số lượng cá thể mèo gấm còn vào khoảng 10.000 con. Và vẫn đang tiếp tục giảm. Chính vì vậy, mèo gấm ở Việt Nam đã được liệt vào danh mục động vật sách đỏ. Cần phải có chính sách bảo vệ cấp thiết.

Mèo châu Á – Nét đặc sắc tạo nên sự đa dạng loài mèo rừng

Mèo rừng châu Á hay còn gọi là mèo thảo nguyên châu Á, mèo sa mạc Ấn Độ. Có tên khoa học là Felis silvestris ornata. Thường sống chủ yếu ở sa mạc Rajasthan, đầm lầy mặn Kutch. Gồm cả vùng đồng cỏ Banni của Ấn Độ và vùng sa mạc Sindh ở Pakistan nằm ngay bên cạnh.

mèo rừng châu á

Mèo rừng châu Á có quan hệ họ hàng với mèo châu Phi. Kích thước lớn hơn so với mèo nhà. Đây là loại mèo có lông màu vàng nhạt ở cơ thể, đốm đen ở lưng, vằn đen ở chân và phần bụng lông trắng nhạt. Đặc biệt, mắt của mèo rừng châu Á có màu vàng.

Mèo rừng châu Á thích ăn những loài động vật nhỏ có vú, các loài gặm nhấm. Đây cũng là loài động vật sát thủ về đêm, chúng chủ yếu hoạt động vào ban đêm.

Hiện nay, số lượng lớn mèo rừng châu Á được quy tụ tại khu bảo tồn động vật hoang dã Jalore. Tọa lạc gần Jalore, Rajasthan, Ấn Độ. Đây là địa điểm giúp bảo tồn loài động vật nhanh nhẹn, đáng yêu trên thế giới.

13 loài mèo rừng đẹp nhất trên thế giới

Trên thế giới có rất nhiều loài mèo rừng đáng yêu. Trong số đó có thể bạn cũng đã từng nghe qua. Dưới đây là danh sách 13 loài mèo rừng tuyệt đẹp trên thế giới:

  1. Mèo cát

Mèo cát có tên khoa học là Felis margarita. Thường sinh sống ở các vùng sa mạc của châu Á và châu Phi. Loài mèo này có kích thước khá nhỏ, chân ngắn, đuôi dài. Đặc biệt là tai lớn và nhọn. Đây là loài mèo có thể không uống nước trong nhiều tháng mà vẫn sống sót được. Lý do đặc biệt là chúng tận dụng triệt để lượng nước trong cơ thể của con mồi.

  1. Mèo chân đen

Mèo chân đen có tên khoa học là Felis nigripes. Sống đơn độc và thường chọn những nơi yên tĩnh để sinh sống. Đây là một trong những loài mèo có đôi tai nhỏ nhất trên thế giới.

  1. Linh miêu Canada

Linh miêu Canada có tên khoa học là Lynx canadensis. Chúng có bộ lông màu xám nâu dày, chân dài. Giúp chúng di chuyển nhanh trong điều kiện trời tuyết dày.

  1. Mèo manul hay mèo Pallas

Mèo manul hay mèo Pallas, có tên khoa học là Otocolobus manul. Kích thước tương đương với loài mèo nhà. Hiện nay, loài mèo này đang bị đe dọa suy giảm số lượng. Bởi môi trường sống bị tàn phá và lượng thức ăn hạn hẹp.

mèo manul

  1. Linh miêu tai đen

Loài mèo này còn được gọi với cái tên khác là Mãn rừng. Có tên khoa học là Caracal caracal, chuyên săn mồi vào ban đêm. Đặc điểm nổi bật của loài mèo này là có thể săn mồi trên cây, mặt đất và thậm chí là bơi để bắt cá.

  1. Báo gấm hay báo mây

Mèo rừng này có tên khoa học là Neofelis nebulosa, có thân hình nhỏ nhắn nhưng nhanh nhẹn. Đây là loài mèo có răng nanh dài nhất trên thế giới.

  1. Mèo Pampas

Có tên khoa học là Leopardus pajeros, môi trường sống khá đa dạng từ rừng khô. Với độ cao lên tới 5.000m cho đến đồng cỏ, thảo nguyên rộng lớn.

  1. Mèo rừng hay mèo báo

Loài mèo này có tên khoa học là Prionailurus bengalensis, sinh sống ở  Đông Nam Á và Nam Á. Đây là loài mèo có bộ lông đốm giống báo. Nhưng tuyệt nhiên không có quan hệ họ hàng với loài báo.

  1. Mèo cây châu Mỹ hay Mèo rừng châu Mỹ

Đây là loài mèo có quan hệ họ hàng gần với loài báo sư tử. Tuy nhiên, loài mèo này có kích thước nhỏ, thường sống ở Trung Mỹ và Nam Mỹ.

  1. Mèo cá

Tên khoa học của loài mèo này là Prionailurus viverrinus. Sống ở khu vực Đông Nam Á và Nam Á. Điểm đặc biệt của loài mèo này là môi trường sống ở các con sông, suối, hồ, đầm lầy. Thức ăn của chúng chủ yếu là cá và tất nhiên mèo cá bơi giỏi nhất trong số các loài mèo trên thế giới.

  1. Mèo đồng cỏ châu Phi

Mèo rừng này có tên gọi là Leptailurus serval. Có kích thước trung bình nhưng hình dáng thanh mảnh, chân dài, đuôi ngắn. Đặc trưng của loài mèo này là có thể chạy với tốc độ tối đa 80km/ giờ. Di chuyển 3-4km mỗi đêm để tìm kiếm thức ăn. Loài vật này có đôi tai lớn, thính nên chúng có thể phát hiện ra con mồi ngay cả ở trong lòng đất.

  1. Báo lửa hay beo vàng châu Á

Loài mèo rừng này có tên khoa học là Pardofelis temminckii. Thường sống ở những khu rừng gần với các dãy núi đá. Một số tộc người  Karen của Thái Lan tin rằng: Một sợi lông của báo lửa chính là bùa hộ mệnh an toàn cho họ thoát khỏi con hổ khi đi săn bắn.

báo lửa

  1. Mèo núi Andes

Mèo núi này có tên khoa học là Leopardus jacobitus. Sinh sống ở độ cao khoảng 3.500 – 4.800m. Mèo rừng này có kích thước tương đương với mèo nhà nhưng lông dày và đuôi dài hơn.

Đối với những người yêu thích loài động vật nhỏ nhắn, nhanh nhẹn, đáng yêu này thì thông tin trên là vô cùng thú vị cho họ tìm hiểu. Để bảo tồn cho loài mèo rừng quý giá, mỗi chúng ta cần phải chung tay bảo vệ môi trường, ngăn chặn tình trạng săn bắn để loài mèo có thể sinh sống và phát triển an toàn trong tự nhiên.

vườn quốc gia yok đôn

Vườn quốc gia Yok đôn – khu rừng đặc dụng lớn nhất Việt Nam

Vườn quốc gia Yok Đôn là vườn quốc gia duy nhất ở Việt Nam bảo tồn khu rừng khộp. Một kiểu rừng đặc trưng với các cây thuộc họ Dầu lá rộng. Đặc biệt, nơi đây không chỉ là bảo tồn hệ sinh thái đặc biệt mà còn là địa điểm khám phá thiên nhiên, du lịch sinh thái bổ ích cho nhiều du khách.

Vườn quốc gia Yok Đôn – Hệ sinh thái phong phú

Vườn quốc gia Yok Đôn nằm ở 2 tỉnh Đắk Nông và Đắk Lắk. Với diện tích rộng lớn, hệ sinh thái động thực vật đa dạng hàng đầu cả nước, điển hình là khu rừng khộp. Chính vì vậy mà vườn quốc gia này được xếp vào loại A trong các khu bảo vệ có tầm quan trọng quốc tế.

Khu rừng có diện tích lõi lên đến 115.545 ha, được chia thành 3 phân khu rõ rệt. Đầu tiên là khu bảo vệ nghiêm ngặt 80.947 ha, thứ hai là khu phục hồi sinh thái 30.426 ha và thứ ba là khu dịch vụ hành chính 4.172 ha. Ngoài ra, vườn quốc gia còn có vùng đệm rộng 133.890 ha.

vườn quốc gia yok đôn

Hệ sinh thái rừng khộp

Cứ nhắc đến đây là khu rừng có hệ sinh thái rừng khộp. Nhưng có thể nhiều người chưa biết rõ về loại rừng này. Đây là khu rừng cây thưa, rụng lá vào mùa khô điển hình của các loại cây như dầu lông, dầu đồng, dầu trà beng,… Ngoài ra, hệ thực vật tại đây rất đa dạng và phong phú. Cụ thể, có tới 858 loài, trong đó có 116 loài cây gỗ có giá trị cao như giáng hương, cà te, trắc, cẩm lai, chiêu liêu đen,… Thêm nữa, khu rừng còn có hơn 100 loài cây thuốc quý như địa liền, hà thủ ô, mã tiền, thiên niên kiện, sâm bố chính,… Và nhiều loại làm cảnh, cung cấp nguyên liệu đan lát, thủ công mỹ nghệ cho người dân.

Đa dạng các loài động vật quý hiếm

Ngoài hệ sinh thái thực vật thì số lượng động vật tại đây cũng là con số ấn tượng. Có đến 489 loài, gồm 67 loài thú; 196 loài chim; 46 loài bò sát; 15 loài lưỡng cư và hơn 100 loài côn trùng đặc trưng của khu vực Đông Nam Á. Đặc biệt, vườn quốc gia Yok Đôn có 36 loài động vật quý hiếm của khu vực Đông Dương. Có 17 loài động vật được ghi trong sách đỏ thế giới cần được bảo vệ gồm:

  • Chim công.
  • Voi.
  • Hổ.
  • Báo.
  • Trâu rừng.
  • Gà lôi.
  • Bò sừng xoắn.
  • Hươu sao.
  • Nai cà tông.
  • Kỳ đà nước.
  • Chim sáo.
  • Sơn dương.
  • Phượng hoàng.
  • Chìa vôi Mê Kông.
  • Quắm lớn.

Sự thú vị của vườn quốc gia Yok Đôn là vùng đệm. Có sự sinh sống của nhiều bản làng định cư lâu đời như buôn Đrang Phốk, Jang Lành, Buôn Đôn… Kết hợp với các dân tộc thiểu số như Ê đê, M’nông, Lào, Tày, Mường,… Đã tạo nên bản sắc phong phú, sự thú vị cuốn hút giữa núi rừng Tây Nguyên.

Vườn quốc gia Yok Đôn – Địa điểm du lịch mới lạ hấp dẫn du khách

Ngoài hệ sinh thái đa dạng, phong phú cuốn hút du khách đến tham quan. Tại đây người dân buôn làng đã xây dựng các hoạt động vui chơi giải trí thú vị. Cho du khách ghé thăm như đạp xe dưới tán rừng xanh mát, chèo thuyền độc mộc, đi bộ leo núi,…

Những con thác đổ ào ào đến mê người

Thác Bảy Nhánh chính là nơi duy nhất dòng sông Sêrêpốk chia làm 7 nhánh. Đổ ào tạo thêm chút ồn ào, náo nhiệt cho khu rừng. Dòng sông trong xanh soi bóng những tán cây cổ thụ. In hình những ghềnh đá ẩn chứa bên trong lòng. Hay du khách có thể ghé đến Thác Phật ẩn sâu trong rừng già. Với muôn hình muôn vẻ của nhiều tảng đá tạo nên sự thích thú bất ngờ. Ngoài ra, còn có những dòng suối mang đến nhiều cơ hội bơi lội, câu cá cho du khách như suối Đắk Ken, Đắk Lau, Đắk Te,…

Chinh phục đỉnh Yok Đôn

Leo núi là hoạt động thể thao được nhiều người yêu thích. Bởi chúng không chỉ để rèn luyện sức khỏe mà còn giúp du khách thỏa sức ngắm nhìn toàn cảnh khu rừng khộp trùng trùng điệp điệp. Nhưng, nếu bạn có ý định xấu khi leo núi như chặt cây, săn bắt thú,… Thì thần rừng sẽ không bỏ qua cho bạn đâu nhé!

Trải nghiệm một ngày làm kiểm lâm

Đây là hoạt động đặc biệt ý nghĩa đối với mỗi người khi đến với vườn quốc gia Yok Đôn. Du khách có thể đăng ký tham gia làm kiểm lâm một ngày. Mặc trên người đồng phục và vật dụng cần thiết,. Cùng đi tuần tra xung quanh khu rừng để có thể tận mắt nhìn thấy tầng tầng lớp lớp các loại cây, các con vật có thể sẽ xuất hiện. Từ đó, du khách sẽ cảm nhận được sự sống của khu rừng. Để trân quý hơn những điều tuyệt vời mà thiên nhiên ban tặng.

Một nhánh lanh trong vườn quốc gia yok đôn
Một nhánh lanh trong vườn quốc gia yok đôn

Khám phá bản sắc dân tộc trong buôn làng

Với một số người không thích đi vào rừng sâu khám phá. Thì hoạt động tìm hiểu bản sắc dân tộc ở các buôn làng sẽ là gợi ý thú vị cho chuyến đi. Mỗi người sẽ có thể được tìm hiểu về các nét văn hóa đặc sắc của từng dân tộc. Thưởng thức các món ăn truyền thống. Tham gia múa cồng chiêng Tây Nguyên,…

Tất cả hoạt động thú vị, hấp dẫn hứa hẹn mang đến những trải nghiệm chưa từng có cho nhiều người.

Vườn quốc gia Yok Đôn – Nhiều nguy cơ tiềm ẩn

Nhắc đến vườn quốc gia Yok Đôn, không chỉ là hệ sinh thái đặc trưng phong phú. Hoạt động du lịch hấp dẫn mà còn là những nguy cơ tiềm ẩn trong đó. Nơi đây cũng đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ nạn chặt phá rừng, lâm tặc, săn bắt thú quý,…

Hệ thực vật đang phải đấu tranh với sự xâm lấn đất đai, nguy cơ cháy rừng, lâm tặc khai thác gỗ,… Chính những nguy cơ đó đang làm cho khu rừng bị đe dọa về diện tích và thực vật phong phú.

Săn bắt voi, lấy ngà voi,… cũng là nguy cơ đe dọa đến số lượng voi trong khu rừng Yok Đôn. Ngoài ra, một số loại động vật quý giá cũng đang bị đe dọa bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan.

Vườn quốc gia Yok Đôn là một trong số những khu rừng đặc trưng hàng đầu tại nước ta, không chỉ là nơi bảo tồn quý giá mà còn lại địa điểm lý thú để du khách có thể khám phá, tìm hiểu về thiên nhiên. Để hệ sinh thái mãi mãi xanh tươi, phong phú và đa dạng thì chúng ta cần phải biết yêu thiên nhiên, bảo tồn thiên nhiên bằng những hành động cụ thể và thiết thực nhất.

cây đươc việt nam

Cây đước phòng hộ – vệ sĩ bờ biển vùng ngập mặn

Cây đước sống ở rừng ngập mặn, tập trung chủ yếu từ Quảng Trị đến đồng bằng sông Cửu Long. Nhiều nhất là tại Cà Mau. Cây đước là loại cây phòng hộ quan trọng bảo vệ vùng đồng bằng ven biển của nước ta.

Đặc điểm của cây đước ở nước ta

Cây đước có tên khoa học là Rhizophora apiculata Blume, thuộc họ Rhizophoraceae. Sống chủ yếu ở vùng nước ngập mặn phía nam của nước ta.  

Đước là cây thân gỗ, cao từ 20 đến 35m, đường kính thân từ 30 đến 45 cm. Thân cây đước tròn, mọc thẳng, vỏ cây dày màu nâu xám đến nâu đen. Trên thân có nhiều vết nứt dạng ô vuông.

Lá cây có đặc tính phân cành cao và tán lá cây đước có hình dù lúc nhỏ. Biến đổi thành hình trụ lúc cây từ 6 tuổi trở đi, cành cây thường nhỏ, có khả năng tỉa cành tự nhiên.

Lá đơn, mọc đối từng đôi một, phiến lá hình thuôn dài, đầu lá nhọn. Gốc lá hình nêm, gân lá nổi rõ ở mặt dưới.

Cụm hoa của cây đước hình tán, mỗi cặp có hai hoa mọc từ nách lá, hoa không cuống, màu đỏ lợt.

Quả đước hình trái lê, phình to ở phía dưới. Cây thường ra hoa vào tháng tư và tháng năm, chín vào tháng bảy đến tháng mười. Nhưng cuối mùa rất dễ bị sâu, mọt đục quả.

cây đươc việt nam

Quá trình sinh trưởng và phát triển

Cây đước từ khi ra hoa đến lúc quả đước chín cần đến 6 tháng. Quả đước khi già sẽ nảy mầm ngay từ lúc còn đang lơ lửng trên cây. Khi rụng xuống quả đước trôi theo dòng nước biển đi khắp vùng đến khi gặp nơi bùn lầy. Quả được đã mọc mầm được giữ lại và bắt đầu mọc rễ để phát triển. Sau khoảng 20 đến 25 ngày phát triển rễ trong đất. Mầm đước sẽ có búp non màu đỏ và hai chiếc lá xanh đầu tiên. Từ đó cây đước tiếp tục phát triển, lớn lên và lan rộng thành rừng.

Cây đước sống ở đâu?

Cây đước thích hợp vùng đất bùn mịn, có thủy triều lên xuống đều đặn, định kỳ, vùng nước mặn hoặc lợ, khí hậu ấm áp quanh năm. Cây đước phân bố tập trung ở các vùng ven biển các nước có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới. Thích hợp ở vùng thấp, thoáng khí, giàu chất hữu cơ. Thành phần cơ giới đất chủ yếu là sét, mùn và ít cát. Thường gần các cửa sông ven biển.

Ở nước ta cây đước phân bố từ ven biển miền Trung đến Cà Mau, Kiên Giang… Nhiều nhất là tại Cà Mau. Ngoài những rừng đước phát triển tự nhiên, nước ta luôn chú trọng trồng thêm nhiều rừng đước mới tại các vùng ngập mặn ven biển.

Đước có thể phân bố thành các quần thụ tập trung có diện tích rộng lớn, tạo kiểu rừng thuần loài, chủ yếu ở Cà Mau, Cần Giờ, Bến Tre… Cũng có thể kết hợp với một số loài cây rừng ngập mặn khác. Tạo ra các quần xã thực vật rất phong phú.

Cây đước ưa khí hậu nóng ẩm nên rất phù hợp với thời tiết nhiệt đới ẩm của nước ta. Đặc biệt tại các vùng ngập gần như quanh năm và có thủy triều lên xuống đều đặn. Các bãi bồi ven biển, vùng trũng nội địa có thời gian ngập mặn 300 ngày trong một năm. Là những nơi thích hợp để cây đước sinh trưởng và phát triển.

Cây đước thuộc loại rễ gì?

Sống tại vùng bùn lầy ngập mặn nên bộ rễ của cây đước phát triển rất đặc biệt. Rễ cây đước đặc trưng cho thực vật sống tại vùng ven biển, thủy triều lên xuống. Chịu tác động lớn của sóng biển, vùng đất chủ yếu là bùn lầy, kết cấu đất không ổn định. Cây đước có rễ cọc ít phát triển ngược lại hệ thống rễ chống vững chắc bao quanh cây lại đặc biệt phát triển. Mỗi cây đước có từ tám đến mười hai rễ chống. Các rễ chống của cây đước cùng góp phần tạo nên hình thái đặc biệt của loài thực vật này.

rừng đước

Các rễ chống bao quanh giúp cây đước đứng vững trong vùng nước ngập mặn, đầm lầy. Ngoài chức năng chống đỡ thân cây, rễ chống còn có nhiệm vụ hút nước và chất dinh dưỡng trong đất để nuôi cây. Ngoài ra cây đước còn có rễ thở mang chức năng hô hấp cho cây thường mọc trực tiếp ở trên thân cây, tại nơi ít ngập nước.

Cây đước có tác dụng gì?

Cây đước là loài thực vật quan trọng trong việc phục hồi các rừng ven biển ở nước ta. Gỗ từ thân cây đước phục vụ cho đời sống của dân cư quanh vùng, làm củi chất đốt nhờ tạo được nhiệt lượng cao. Than từ gỗ đước được người dân ưa thích sử dụng và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Thường được xuất khẩu sang các nước Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan… Gỗ từ cây đước còn xẻ làm ván, đóng đồ gia dụng như bàn ghế, giường tủ… Vỏ đước thường được dùng trong công nghiệp thuộc da, công nghệ in, nhuộm lưới…

Nơi cư trú

Đước thường mọc rộng thành rừng tạo nên hệ sinh thái thu hút các loài động vật đến sinh sống như chim, thú, lưỡng cư, bò sát… Rừng đước còn là nơi ở của các thủy sản có giá trị kinh tế cao của nước ta như cua, tôm, các loại cá, động vật đáy… Cây đước còn đặc biệt quan trọng trong việc phòng hộ của nước ta, bảo vệ bờ biển, chống xâm lấn, xói mòn các đồng bằng ven biển, cố định các bãi bồi ven biển, chống gió bão, sóng thần…

Rừng phòng hộ

Rừng cây đước phòng hộ cho các vùng nuôi trồng thủy sản ven biển. Bảo vệ đất sản xuất nông nghiệp của người dân địa phương. Cung cấp oxi, điều hòa khí hậu, có giá trị trong nghiên cứu khoa học. Ngày nay, rừng đước cùng là địa điểm thu hút du lịch nổi tiếng của nước ta. Nhờ hình thái đặc biệt, hệ sinh thái đa dạng nên được rất nhiều du khách yêu thích.

Cân bằng hệ sinh thái và môi trường

Cây đước là cây chủ lực của vùng ngập mặn ở nước ta. Gắn liền với đời sống sinh hoạt của bà con vùng đồng bằng ven biển miền Nam. Lại giữ vai trò quan trọng đối với môi trường và hệ sinh thái. Nên nước ta luôn đặc biệt chú trọng bảo vệ và tăng cường trồng mới các rừng đước. Mang giá trị lớn trong việc bảo vệ bờ biển nước ta. Nên đước cần được bảo vệ và biết cách khai thác hợp lý cũng như việc trồng mới rừng, phủ xanh vùng đầm lầy ngập mặn ven biển.

Project Assistant

Project Assistant vacancy at SUSFORM-NOW Project

SUSFORM-NOW is now seeking applications from Vietnamese nationals for the following posts:

1. Project Assistant

The assignment is based at the project office in Dien Bien Phu City for the initial contract period of one year with the possibility of extension. The assignment involves frequent travel to the field (mostly day trips by the project vehicles) and work in the villages of ethnic minorities including Thai, Hmong, and others.

Interested applicants are requested to send (1) cover letter and (2) CV (with the provided format) to the following address:

Name: Du an SUSFORM-NOW

Address: So NN&PTNT, So 672, Tho 1, Phuong Tan Thanh, TP-Dien Bien Phu, Tinh Dien Bien

Phone: 0230-3832856

Email: susform.now@gmail.com

Note that the CV format shall be fully filled otherwise it might not be considered as a part of the complete application package. Please clearly indicate which post you are applying for as we have several vacant posts announced at the same time.

Deadline for application is 1 May, 2013. The shortlisted candidates will be interviewed in early-mid May.

For more detail on the project, please see the following

website: http://www.jica.go.jp/project/english/vietnam/004/index.html

Important notice: If you apply through post, your application package should reach our office by the above deadline.

  • Terms of Reference
  • CV Template

Lâm sản ngoài gỗ – Cẩm nang ngành lâm nghiệp

Khái niệm về lâm sản ngoài gỗ (LSNG)

Việt Nam nằm ở Đông-Nam lục địa Châu Á, có đường biên giới trên đất liền khoảng 3.700 km dọc theo các triền núi và châu thổ Mê Kông, có bờ biển dài 3.260 km. Phần lãnh thổ đất liền của Việt Nam trải dài từ 80°30’đến 230°24’ vĩ Bắc, mang tính chất của một bán đảo với điểm cực Bắc là chòm Lũng Cú thuộc cao nguyên Đồng Văn, điểm cực Nam là xóm Rạch Tàu thuộc tỉnh Cà Mau. Các đảo của Việt Nam trải dài từ Trường Sa đến Vịnh Bắc Bộ, với những hệ sinh thái dặc thù như Phú Quốc, Côn Đảo, Hoàng Sa, Hạ Long, Bái Tử Long, v.v…Bắc Việt Nam, từ Đèo Hải Vân trở ra Bắc, nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng rõ rệt của gió mùa Đông Nam Á: gió mùa đông bắc mang theo không khí lạnh từng đợt từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau và gió mùa đông nam đưa tới những đợt không khí nóng ẩm từ tháng 4 đến tháng 10. Từ Hải Vân trở vào Nam nhiệt độ quanh năm nóng với hai mùa nắng mưa, đặc trưng của khí hậu nhiệt đới. Tuy nhiên, ở cả hai miền đều có những dãy núi cao, hình thành những hệ sinh thái khác biệt vùng thấp cùng vĩ độ. Những đặc điểm khí hậu và địa hình đó đã
tạo nên một Việt Nam giầu tính đa dạng sinh vật. Hiện nay các nhà thực vật học đã thống kê được trên 12.000 loài cây, trong đó 7.000 loài đã được mô tả, 5.000 loài còn chưa được biết công dụng, phần lớn là các loài cây dưới tán rừng không cho gỗ. Trong số những loài đã biết có 113 loài cây cho chất thơm; 800 loài cho tannin; 93 loài chứa chất làm thuốc nhuộm; 458 loài có tinh dầu; 473 loài chứa dầu và 1863 loài cây dược liệu.

Việt Nam có khoảng 10% tổng số những loài thực vật được biết trên Thế giới. Có những loài động thực vật từ trước tới nay chưa được biết đến mới được phát hiện ở Trường Sơn. Chỉ trong các năm 1992-1998 đã phát hiện thêm nhiều loài thú mới ở Bắc Trường Sơn: Mang lớn, Sao la, Mang Trường sơn, Bò sừng xoắn Tây nguyên. Mới phát hiện thêm 50 loài cây thuốc quí, như Amomum longiligulara, Rauwolfia vomitoria, Tetrapanax papyrifera… Các nhà thực vật học đã xác định khoảng 40-50% thực vật rừng Việt Nam có nguồn gốc Ấn Độ, Malai, Indonesia, Trung hoa,… di cư đến. Sự phong phú về loài của thực vật rừng Việt Nam rất cao: nhiều họ có trên 100 loài, như Phong lan có 901 loài; Thầu dầu có 333 loài; Cà phê có 286 loài; Cánh bướm có 290 loài… Nhiều họ thực vật ôn đới cũng được thấy ở Việt Nam như Hồ Đào, Du, Liễu, Dẻ… Có tới 8 họ cây Lá kim với 18 chi, 39 loài, một số loài đặc hữu, một số loài hiếm như: Thông lá dẹt (Ducampopinus krempfi), Thông 5 lá (Pinus dalatensis), Thủy tùng (Glyptostrobus pensilis), Thông đỏ (Taxus baccata).

1.1 Định nghĩa Lâm sản ngoài gỗ

Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ở Việt nam lâm sản được phân chia thành hai
loại:

  • Lâm sản chính (principale richesse forestière) là những sản phẩm gỗ;
  • Sản phẩm phụ của rừng hay lâm sản phụ (produit secondaire de la forêt), bao gồm
    động vật và thực vật cho những sản phẩm ngoài gỗ.

Từ 1961, lâm sản phụ được coi trọng và được mang tên đặc sản rừng. “Đặc sản rừng bao gồm cả thực vật và động vật rừng là nguồn tài nguyên giầu có của đất nước. Nó có vị trí quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, trong đời sống nhân dân, quốc phòng và xuất khẩu…” ( Bộ Lâm nghiệp – Kế hoạch phát triển Đặc sản rừng, 1981-1990). Theo định nghĩa đó Đặc sản rừng là một bộ phận của tài nguyên rừng nhưng chỉ tính đến những sản phẩm có công dụng hoặc giá trị đặc biệt và ngoài các loài thực vật dưới tán rừng còn bao gồm các loài cây cho gỗ đặc hữu hoặc được coi là đặc hữu của Việt Nam, như Pơ mu, Hoàng đàn, Kim giao… , như vậy thuật ngữ đặc sản cũng mang ý nghĩa kinh tế, vì không tính đến những sản phẩm không có hoặc chưa biết giá trị. Vì thế, danh mục những đặc sản rừng trong từng thời điểm cũng tập trung sự chú ý vào một số sản phẩm nhất định.

Ngày nay, trong Lâm nghiệp thuật ngữ lâm sản ngoài gỗ được dùng phổ biến, chính thức thay cho thuật ngữ lâm sản phụ (minor forest product/ secondary forest product). Định nghĩa của thuật ngữ này được thông qua trong hội nghị tư vấn lâm nghiệp Châu Á-Thái Bình Dương tại Băng Cốc, 5-8-1991: “Lâm sản ngoài gỗ (Non-wood forest product) bao gồm những sản phẩm tái tạo được ngoài gỗ, củi và than gỗ. Lâm sản ngoài gỗ được lấy từ rừng, đất rừng hoặc từ những cây thân gỗ”. Do đó, không được coi là LSNG những sản phẩm như cát, đá, nước, dịch vụ du lich sinh thái.

Theo định nghĩa này củi, than gỗ, cành ngọn, gốc cây không được coi là LSNG, không thỏa đáng đối với việc khai thác tận dụng phế liệu gỗ. Những dịch vụ trong rừng như săn bắn, giải trí, dưỡng bệnh trong rừng, du lịch sinh thái, v.v…là một phạm trù khác, không được xếp vào LSNG, nhưng trên quan điểm kinh tế cũng có nơi du lịch sinh thái cũng được coi như sản phẩm của rừng.

Hội nghị lâm nghiệp do Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc triệu tập tháng 6 năm 1999 đã đưa ra và thông qua một khái niệm và định nghĩa khác về LSNG “Lâm sản ngoài gỗ (Non timber forest product) bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ, được khai thác từ rừng, đất có cây rừng (wooded lands) và cây ở ngoài rừng”. Thuật ngữ này phải dịch sang Tiếng Việt là “Lâm sản ngoài gỗ cây”, nhưng để đơn giản vẫn dùng thuật ngữ LSNG. Với định nghĩa này, LSNG bao gồm cả động vật, gỗ nhỏ và củi và rộng hơn so với định nghĩa trước. Trong tài liệu sách báo nước ngoài, hiện tại cả hai thuật ngữ NWFP và NTFP vẫn được dùng. Song có tác giả, để hạn chế đối tượng nghiên cứu, đánh giá giá trị kinh tế của LSNG, như Jenne H. De Beer thêm vào định nghĩa trên một mệnh đề, thành một định nghĩa khác như sau: “LSNG bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật không phải gỗ được người ta khai thác từ rừng để sử dụng”. Có thể hiểu được rằng khái niệm hàm ý chỉ quan tâm đến sản phẩm được khai thác để dùng. Thuật ngữ “đặc sản rừng” còn hẹp hơn, và được hiểu là những cây, con LSNG có công dụng đặc biệt và đặc hữu của Việt Nam. Vì khái niệm
và định nghĩa LSNG có sự khác nhau như thế nên việc vận dụng vào thực tế cũng có sự khác
nhau.

1.2 Phân nhóm LSNG theo công dụng

Trên thế giới cũng đã có nhiều khung phân loại LSNG được đề xuất. Có khung phân loại dựa vào dạng sống của cây tạo ra các sản phẩm như nhóm cây gỗ, cây bụi, cây thảo, dây leo gỗ, dây leo thảo…. Có khung phân loại dựa vào công dụng và nguồn gốc của các LSNG, như khung phân loại được thông qua trong hội nghị tháng 11 năm 1991 tại Băng Cốc . Trong khung này, LSNG được chia làm 6 nhóm :

  • Các sản phẩm có sợi: Tre nứa; song mây; lá, thân có sợi và các loại cỏ.
  • Sản phẩm làm thực phẩm.
    • Các sản phẩm nguồn gốc thực vật: thân, chồi, rễ , củ, lá, hoa, quả, quả hạch,
      gia vị, hạt có dầu và nấm.
    • Các sản phẩm nguồn gốc động vật: mật ong, thịt động vật rừng, cá, trai ốc, tổ
      chim ăn được, trứng và côn trùng.
  • Thuốc và mỹ phẩm có nguồn gốc thực vật.
  • Các sản phẩm chiết xuất: gôm, nhựa, nhựa dầu, nhựa mủ, tanin và thuốc nhuộm, dầu
    béo và tinh dầu.
  • Động vật và các sản phẩm từ động vật không làm thực phẩm: tơ tằm, động vật sống,
    chim, côn trùng, lông mao, lông vũ, da, sừng, ngà, xương và nhựa cánh kiến đỏ.
  • Các sản phẩm khác: như lá Bidi (lá thị rừng dùng gói thuốc lá ở Ấn Độ)

Để hoà nhập với các nước láng giềng chúng tôi đề nghị sử dụng khung phân loại các LSNG được thống nhất trong Hội nghị các nước vùng Châu Á Thái Bình Dương, tháng 11 năm 1991 tại Băng Cốc, Thái lan và có sửa đổi để phù hợp với thực tế Việt Nam.

Trước hết chúng tôi đã bổ sung thêm 3 nhóm phụ : (1) Các cây có chất độc vào nhóm 3 (cây thuốc và mỹ phẩm); (2) Các cây cảnh; (3) Các lá dùng để gói, bọc vào nhóm 6 (các sản phẩm khác).

1.3 Khung phân loại các LSNG được đề xuất

Để phù hợp với điều kiện thực tế, chúng tôi đề xuất khung phân loại LSNG của Việt Nam như sau :

  • Sản phẩm có sợi, bao gồm: tre nứa, mây song, các loại lá, thân, vỏ có sợi và cỏ.
  • Sản phẩm dùng làm thực phẩm:
    • Nguồn gốc từ thực vật: thân, chồi, củ, rễ, lá, hoa, quả, gia vị, hạt có dầu, nấm
      ăn.
    • Nguồn gốc từ động vật rừng: mật ong, thịt thú rừng, cá trai ốc, tổ chim ăn
      được, trứng và các loại côn trùng.
  • Các sản phẩm thuốc và mỹ phẩm:
    • Thuốc có nguồn gốc thực vật
    • Cây có độc tính
    • Cây làm mỹ phẩm
  • Các sản phẩm chiết xuất:
    • Tinh dầu
    • Dầu béo
    • Nhựa và nhựa dầu
    • Dầu trong chai cục
    • Gôm
    • Ta-nanh và thuốc nhuộm
  • Động vật và các sản phẩm động vật không làm thực phẩm và làm thuốc.
    • Động vật sống, chim và côn trùng sống: da, sừng, xương, lông vũ…
  • Các sản phẩm khác:
    • Cây cảnh,
    • Lá để gói thức ăn và hàng hóa …

Tuy nhiên, đối với từng loài cụ thể việc phân loại không cố định mà biến đổi theo địa phương và thời gian vì công dụng của lâm sản có sự thay đổi, ví dụ: Quế có thể xếp vào dược liệu nhưng cũng được xếp vào gia vị… cũng như nhiều sản phẩm có thể được phân vào các nhóm khác nhau tuỳ từng nơi, từng lúc…

1.4 Tiêu chí để phân biệt LSNG và cây nông nghiêp

Ngày càng có nhiều loài cây rừng, trong đó đa số là LSNG, được trồng trên đất nông nghiệp. Trong nhiều trường hợp cây cho LSNG đã được coi là cây nông nghiệp như cây Điều, Sơn, Sở… Ngược lại, có nhiều loài cây được trồng ở vùng nông nghiệp nhưng vẫn được coi như LSNG như nhiều loài tre, trúc, mây. Vì vậy, việc đưa ra “Tiêu chí” để phân định cây thuộc LSNG là cần thiết:

  • Cây có nguồn gốc từ rừng và hiện còn được trồng trên đất Lâm nghiệp
  • Cây thuộc sự quản lý của Lâm nghiệp (do Nhà nước quy định).

Những tiêu chí này chỉ mang tính quy ước để thuận tiện cho quản lý, không có ý nghĩa khoa học kĩ thuật.

Tải file đầy đủ: Lâm sản ngoài gỗ – cẩm nang ngày lâm nghiệp.pdf

reddesk vietnam

Viet Nam REDD network foundation

Nguyễn Bích Hằng – Communications Officer, FSSP

Hanoi – On 22 July 2009, the Forest Sector Support Partnership (FSSP) in collaboration with Department of Forestry (MARD) and its partners held a meeting for the establishment of REDD (Reducing Emissions from Deforestation and Forest Degradation) network in Viet Nam.

The Department of Forestry (DoF) is the focal point within the Government of Viet Nam to oversee the development and implementation of a national REDD programme. The DoF is currently seeking to develop a National REDD programme to engage in international forest carbon markets and provide inputs to international talks regarding a future REDD international trading scheme at the United Nations Framework Convention on Climate Change (UNFCCC) COP-15 in Copenhagen in December 2009.

The REDD Network is a multi-partner team to support the development of REDD readiness in the context of efforts by the Government of Vietnam to address Climate Change mitigation and adaptation, as reflected in the National Target Programme on Climate Change Response for the period 2009-2015 (NTP/CCR).

The strategic objectives of the NTP/CCR are to assess climate change impacts on sectors and regions; and to take opportunities to develop towards a low-carbon economy, and to join the international community’s efforts in mitigating climate change and protecting the climatic system.  In the context of these objectives of the NTP/CCR, the objective of the REDD Network is to coordinate the activities of Vietnamese agencies and international development partners (including NGOs) in establishing the necessary institutions, policies and processes to allow Viet Nam to participate actively and effectively in programmes of the UNFCCC to reduce deforestation and forest degradation, and to promote conservation, sustainable forest management, and enhancement of forest carbon stocks (“REDD+”).

At the meeting, it was agreed that the REDD Network will be chaired by the DoF and co-chair by international development partner on a rotation basis with Norwegian Embassy will take the role for the first cycle. Membership of the REDD Network is open-ended, consisting of representatives of the DoF, the Department of International Cooperation (ICD), Coordination Office of the Forest Sector Support Partnership (FSSP), National Office for the implementation of the UNCCD, other relevant departments and organizations of the Government of Viet Nam, and representatives of relevant bilateral and multilateral development partners and broader stakeholders if possible. Proposed Terms of Refrence of the Network was endorsed, and some follow-up action were agreed to be done soon for preparation of UN-REDD Inception Workshop on 27 August 2009.

Trust Fund for Forests

TFF – Trust Fund for Forests

The Trust Fund for Forests (TFF) was established through an Official letter 850/CP-NN dated 23rd June 2004. At the same time four bilateral donors (Finland, the Netherlands, Sweden and Switzerland) signed a Memorandum of Understanding (MOU) with the Ministry of Agriculture and Rural Development (MARD), which committed them to pool their ODA contributions in support of Vietnam’s forest sector during an initial three year transition phase of the TFF.

What is the TFF?

The Trust Fund for Forests (TFF) is a financing mechanism for pooling donor contributions and ensuring these are used effectively to address sector priorities within agreed policy frameworks, such as the National Forest Development Strategy.

What is the mission statement of the TFF?

Vietnam’s Trust Fund for Forests will provide a grant facility to support pro-poor and sustainable approaches to forest management and a transition towards a comprehensive sector wide approach for development and cooperation in the forest sector.

What are the TFF’s goals and objectives?

The overall goal of the fund is consistent with that of the existing National Forest Development Strategy – “The sustainable management of forests and the conservation of biodiversity to achieve: a) protection of the environment, b) improved livelihoods of people in forest dependent areas, and c) enhanced contribution of forestry to the national economy.”

The TFF has four specific objectives:

  • Aligning ODA support more closely with the agreed priorities identified in the FSSP framework
  • Improving poverty targeting of ODA support to the forest sector, consistent with the CPRGS
  • Harmonizing aid delivery from ODA to the forest sector and reducing transaction costs on GoV
  • Supporting a transition towards a sector wide approach to ODA support in the forest sector

The TFF’s organizational structure

The organizational structure of the TFF consists of a Board of Directors (BoD) and a TFF Management Unit (TFF MU). The BoD is chaired by MARD’s Vice Minister responsible for the forest sector; members include leaders of MARD’s International Cooperation Department, Planning Department, Finance Department, representatives from other relevant departments of MARD together with a representative from TFF donors. The BoD performs an executive function and is responsible for decisions on operations, orientation and annual income and expenditure of the TFF.

The TFF Management Unit is responsible for managing and operating the TFF in accordance with the directions approved by the BoD. During the initial transition phase, the Forest Sector Support Partnership Coordination Office (FSSP CO) acts as the TFF MU. Beyond this, during a full implementation phase, it is intended that the TFF will be fully institutionalized within MARD.

Address: The Trust Fund for Forests (TFF)

Ministry of Agriculture and Rural Development

3rd floor, A8 Building, 10 Nguyen Cong Hoan, Ba Dinh, Hanoi

Contact: Nguyen Chien Cuong (Mr.): Tel: 04 7629412, ext. 108

TFF financing

The Governments of Finland, Netherlands, Sweden and Switzerland contribute non-refundable ODA funds to the TFF. Germanyprovides support through provision of technical assistance for development and operation of the TFF.

Funds provided by the four donors are un-earmarked allowing them to be used to support programs, projects and non-project activities to implement agreed priorities of the FDS. As of 31st December 2007 in total approximately Euro 13.5 million in un-earmarked commitments have been made by the donors for the transition phase. In addition Finland provides earmarked funds totalling Euro 4.2 million, which co-finance the Forest Sector Development Project.

Support from TFF

The TFF provides support in the form grants either as a sole donor or co-financier to programs, projects and non-project activities. By December 2007, 22 projects and activities had been endorsed for support from the TFF with a total value of Euro 29 million.

The TFF is able to support national organizations. During implementation of programs or projects, international NGOs and international organizations that are legally operating in Vietnam can participate as technical service providers to a national implementing agency.

The TFF is able to consider requests for funding on the basis of priorities identified by MARD and agreed by the BOD based on the implementation status of the Vietnam Forest Development Strategy (2006-2020) and the sectoral plans. In general one or more organisations can be pre-selected by MARD/TFF to prepare proposals to address such priorities.

Forest Sector Support Partnership

Introduction Forest Sector Support Partnership

Since 1999, the Forestry Partnership and the Government of Viet Nam have experienced 3 development phases: (i) Partnership for supporting 5 Million Hectares Reforestation Program (5MHRP), 1999-2001; (ii) Forest Sector Support Program and Partnership (FSSP&P), 2001-2006; and (iii) Forest Sector Support Partnership (FSSP or also called Forestry Partnership) from late 2006.

FSSP is aimed to have “An effective Forestry Partnership among government, private sector, non-governmental and international stakeholders contributes to implementation of the Viet Nam Forestry Development Strategy (2006 – 2020), by promoting information sharing, increasing policy dialogue and collaboration on important forest sector issues, and maximizing the effectiveness of the activities of the Partnership members aimed to support the forestry sector of Viet Nam.

In order to meet the objectives, FSSP has developed and put in place its institutional structure (Partnership forum, Partnership Steering Committee (PSC), Technical/ Executive Committee (TEC), Regional Forestry Networks (RFNs), FSSP Coordination Office (FSSPCO)), developed and utilized a range of instruments (annual review meetings, thematic workshop, Regional Forestry Network meeting, investment forum, thematic newsletters, FSSP website, FOMIS, thematic articles and publications on key issues in the Strategy or sectoral ones in reality, policy evaluation and economic – technical evaluation done by international and domestic experts, and participation in regional and international fora and initiatives).

As the result, Forest Sector Support Partnership has made substantial contributions recently with sectoral achievements reflecting in following aspects:

PSSP – An effective forum for information sharing and policy dialogue

FSSP has created plenty of fora, where Government of Viet Nam and international and domestic partners could exchange information on scientific technology, management, institutions and policies relating to forestry at national, regional and global scale. Through information sharing and policy dialogue fora, FSSP has definitely made remarkable contributions on important issues of the forest sector of Viet Nam, such as in development of Forest Protection and Development Law 2004, development and implementation of National Forestry Strategy 2001 – 2010, and Viet Nam Forestry Development Strategy 2006 – 2020, and other legal documents of the sector.

FSSP – Strengthening resource mobilization, coordination and cooperation in key fields of the sector

FSSP has played an important role in mobilizing resources for the sector and strengthening coordination and cooperation among partners, resulting in substantial contributions in improving resource utilization efficiency (including efficiency), it especially attracted concerns and resources of stakeholders, contributing to resolution of key issues in implementation of the sectoral strategy, e.g. supporting the steering committees of 5 key VFDS programs.

FSSP – Respond to newly emerging issues

Recently, FSSP has worked actively and flexibly to meet new requirements, especially in Forest Law Enforcement, Governance and Trade (FLEGT) and Reducing Emissions from Deforestation and Forest Degradation (REDD). In addition, FSSP CO has been playing Secretariat role for REDD National Working Group and Network as well as Vietnam’s stakeholders in accessing support from regional and international initiatives, e.g. Asia Pacific Forestry Commission (APFC), National Forestry Programme (NFP), Asia Pacific Network for Sustainable Forest Management and Rehabilitation (APFNet).

The forest sector is under institutional restructuring process aimed at strengthening the sectoral governance and improving the effectiveness and comprehensiveness in forestry – based state administration. With the establishment of Directorate of Forestry (VNDoF) on the basis of reorganizing two forestry agencies, i.e. Department of Forestry and Forest Protection Department, the institutional and organizational structure of the sector will be changed accordingly and appropriately. Along with the mandate of maximizing significantly support for the sector, FSSP needs to change itself in terms of functions, operations and organizational structure to better support the forest sector in the coming time.

Beside that Viet Nam is going to become middle – income country at low level and facing global challenges on climate change, energy security, food security and biodiversity conservation, the Ministry of Agriculture and Rural Development (MARD) and Partners agreed that FSSP will continue to play important roles contributing to the development and implementation of Viet Nam Forestry Development Strategy 2006-2020 especially in 2011-2015 period.

FSSP’s development orientation in 2011-2015 is to strengthen its contributions to the forest sector in 3 dimensions:

  • Firstly, FSSP’s policy dialogue will be improved with higher strategic level by focusing its priority on strategic issues of the sector, reviewing current policies and orientating development of appropriate policies.
  • Secondly, FSSP will expand its membership to private sector, profession associations, local NGOs so as to be better listening from and making full use of various experiences, contributions and proposals of such agencies towards VFDS implementation at national, regional and local levels.
  • Thirdly, FSSP will further improve the Monitoring and Evaluation (M&E) systems for (i) VFDS implementation; (ii) process and results of implementing conclusions, proposals and recommendations (from workshops, fora… under FSSP) for the forest sector in VFDS implementation; and (iii) FSSP activities.